1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 319/2023/HS-ST
Ngày: 06/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Hà
Ông Bùi Đức Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 310/2023/TLST-HS ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/QĐXXST-HS ngày 21/11/2023 đối với bị cáo: LƯƠNG VĂN N, sinh năm 1988; HKTT và chỗ ở: Không xác định; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông: Lương Văn K (c) và bà Hoàng Thị H (c); vợ là Bùi Thị T, có 2 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 567 ngày 30/08/2023 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án tiền sự còn trong thời hiệu. Nhân thân: Bản án số 166/HSST ngày 07/5/2010 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 19/01/2012. Bản án số 04/HSST ngày 18/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 17/8/2020. Bị bắt ngày 21/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội (Có mặt).
*Bị hại:
Anh Lã Minh T, sinh năm 1994
HKTT: Thôn Từ T, xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
(Vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp nên Lương Văn N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/8/2023, Lương Văn N đi bộ tại khu vực chợ Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Lúc đi N mang theo 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại để làm dụng cụ mở khóa xe máy. Khi đi đến số nhà 29/366 phố Ngọc Lâm, N phát hiện chiếc xe máy nhãn Honda Wave Alpha màu xanh, BKS 89H2-1629 của anh Lã Minh T dựng trên vỉa hè, không có người trông giữ. N lại gần chiếc xe máy trên, dắt xuống lòng đường rồi sử dụng chiếc chìa khóa N chuẩn bị từ trước cắm vào ổ khóa xe máy để nổ máy xe thì bị anh Tân phát hiện, hô hoán. Cùng lúc này tổ công tác Công an phường Ngọc Lâm đã tiến hành bắt quả tang N cùng tang vật. Tang vật thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 89H2-1629, 01 chìa khóa bằng kim loại, cán nhựa màu đen, dài khoảng 05 cm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 157/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh BKS 89H2-1629 đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Tại Bản cáo trạng số 292/CT-VKS-LB ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố Lương Văn N về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lương Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và khẳng định không bị oan.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai: khẳng định đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luật hành vi của bị cáo Lương Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn N mức án từ 12-15
3
tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về tang vật: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- [2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lương Văn N tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, bản kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/8/2023, tại số nhà 29/366 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Lương Văn N có hành vi lén lút trộm cắp của anh Lã Minh T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh BKS 89H2-1629 trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn trên địa bàn, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm khắc.
- [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 2 tiền án: Ngày 07/5/2010, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 19/01/2012. Ngày 18/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 17/8/2020. Quá trình điều tra xác minh thể hiện bị cáo đã chấp hành xong các bản án trên nên đã được xóa án tích, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng hình sự nhưng HĐXX xem xét về nhân thân đối với bị cáo.
4
- [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo HĐXX thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù nhằm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì đã có tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- [6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- [7] Về dân sự: Anh Lã Minh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên HĐXX không giải quyết, anh đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
- [8] Đối với chiếc chìa khóa bằng kim loại, cán nhựa màu đen (N dùng để trộm cắp tài sản) là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [9] Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh BKS 89H2-1629, số khung: 4410883, số máy: 0410915, kết quả tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, đăng ký xe mang tên chị Hoàng Thị H (sinh năm: 1985, HKTT: Thôn Hoàng Thụ, xã Tân Dân, Khoái Châu, Hưng Yên). Chị H khai chị mua chiếc xe trên vào năm 2004 để sử dụng sau đó chị bán lại cho người không quen biết. Hiện nay chị H không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên. Anh Lã Minh T khai anh mua lại chiếc xe của một người không quen biết, khi mua không viết giấy tờ mua bán, chỉ bàn giao tiền và đăng ký xe, sau đó anh sử dụng đến ngày 21/8/2023 thì bị bị cáo N trộm cắp. Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh Lã Minh T là có căn cứ.
- [10] Bị cáo phải chịu án phí và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
- 1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- 2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
5
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn N 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2023.
- 3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm.
- 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Loan |
Bản án số 319/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 319/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
