|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 319/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/4/2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Ân;
- Bà Nguyễn Thị Nguyên;
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1062/2024/TLST-HNGĐngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2025/QÐST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1977 (vắng mặt – có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: E B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: B ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T trình bày:
Ông và bà Phan Thị L sống chung với nhau vào năm 1996. Hai người có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/1996. Quá trình sống chung giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm. Vợ chồng khác biệt về lối sống và quan điểm sống, không thể nói chuyện và chia sẻ được với nhau. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai bên đã quá trầm trọng không còn hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn. Nay, ông Huỳnh Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phan Thị L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Huỳnh Nhật V, sinh ngày 15/11/2002 (đã trưởng thành) và Huỳnh Thị Phượng V1, sinh ngày 15/5/1998 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị L vắng mặt tại Tòa án, không thể hiện ý kiến gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Huỳnh Văn T yêu cầu được ly hôn với bị đơn bà Phan Thị L. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện B nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 56 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/1996 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Huỳnh Văn T và bà Phan Thị L là là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại tại Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định đời sống chung vợ chồng giữa ông T và bà L phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà L vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy bà L đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân muốn có hạnh phúc thì phải bắt đầu từ tình cảm cả hai phía. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Do đó, ông T và bà L đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng. Cho nên, tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông Huỳnh Văn T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2]. Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên là Huỳnh Nhật V, sinh ngày 15/11/2002 (đã trưởng thành) và Huỳnh Thị Phượng V1, sinh ngày 15/5/1998 (đã trưởng thành).
[3.3]. Về tài sản chung: Ông T tự thỏa thuận với bà L và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
[3.4]. Về nợ chung: Ông T xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về nợ chung.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí: Ông Huỳnh Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;
- - Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T đối với bị đơn bà Phan Thị L về việc tranh chấp ly hôn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn T được ly hôn với bà Phan Thị L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 56 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/1996 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên là Huỳnh Nhật V, sinh ngày 15/11/2002 (đã trưởng thành) và Huỳnh Thị Phượng V1, sinh ngày 15/5/1998 (đã trưởng thành).
1.3. Về tài sản chung: Ông T tự thỏa thuận với bà L và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Ông T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
2. Về án phí: Ông Huỳnh Văn T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khẩu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 51499 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Việt |
2ΑΑΚΚΒΘ*δδαχαφ+
Bản án số 319/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 319/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
