Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 319/2024/HS-PT

Ngày 08 tháng 05 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng.

Các thẩm phán:Ông Lê Hoàng Tấn.

Ông Nguyễn Đắc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Quốc H do bị cáo kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Hồ Quốc H, sinh ngày 31/01/1996 tại tỉnh Tây Ninh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm mướn; con ông Hồ Văn X và bà Nguyễn Thị Thu H1; vợ là Trần Thị Thu T (đã ly hôn); có 02 con, người lớn nhất sinh năm 2017 nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: Ngày 05/12/2022, bị Công an xã P, huyện G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Ngô Phương T1 – Công ty L, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

(Ngoài ra người bị hại không kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn trong chuyện tình cảm do anh T2 và H cùng có quan hệ tình cảm với chị Trân Đặng Ánh N. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/01/2023, Hồ Quốc H lấy 01 khẩu súng ngắn màu đen cất trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi từ nhà ở khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đến khu vực xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh để tìm anh Phạm Ngọc T2.

Khi đến khu vực ngã 3 xã B, huyện G, H phát hiện anh T2 điều khiển xe ô tô BS 70A-299.31 chở chị N nên H điều khiển xe chạy theo. Khi đến cửa hàng mua bán xe ô tô cũ Thạch Anh thuộc ấp T, xã T thì anh T2 điều khiển xe ô tô chạy vào bên trong sân. H dừng xe và để xe mô tô ngoài đường cách cửa hàng mua bán xe khoảng 10 mét. H cầm khẩu súng trên tay đi vào sân trước cửa hàng, lúc này anh T2 vừa bước xuống xe, đang đứng quay lưng ra ngoài cửa, H đi từ phía sau đến sau lưng anh T2 và khi còn khoảng cách 02 mét H cầm súng bắn một phát trúng vào vùng thái dương bên trái của anh T2. Chị N nhìn thấy la lên “Anh H làm gì vậy”, H tiếp tục bắn thêm 02 phát súng chỉ thiên rồi chạy ra đường điều khiển xe bỏ trốn. Anh T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện X1 điều trị đến ngày 30/10/2023 xuất viện. Đến ngày 27/01/2023 H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đầu thú và giao nộp khẩu súng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Theo biên bản nhập vật chứng của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh T gồm: 01 Súng ổ quay tự chế (dạng Rulô); 03 vỏ đạn thể thao và 01 miếng kim loại theo Lệnh nhập kho số: 12/NCA-5-2023 ngày 09/5/2023 (bút lục 42).

Tại Kết luận giám định số: 1827/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự, thuộc Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6 x 15,5)mm, có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng. Tính năng, tác dụng của khẩu súng này: Gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; 03 (ba) vỏ đạn gửi giám định là vỏ của loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm. Đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm có thể sử dụng cho súng quân dụng, súng thể thao, súng chế tạo thủ công. Sử dụng súng phù hợp bắn loại đạn này trúng cơ thể người có thể gây thương vong. Không đủ cơ sở xác định miếng kim loại gửi giám định có phải do khẩu súng nêu trên bắn ra hay không.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 122/KLTTCT-TTPYTN ngày 22/5/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận: Phạm Ngọc T2 có 01 vết sẹo vùng thái dương trái kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%; 01 vết sẹo mờ vùng thái dương trái kích thước nhỏ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Ngọc T2 tại thời điểm giám định là 3%. Thương tích phù hợp do đầu đạn kim loại gây ra.

Tại Bản cáo trạng số: 56/CT-VKS-P2 ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Hồ Quốc H về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm 1, n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm 1, n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 54; Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Hồ Quốc H 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
  3. Buộc bị cáo Hồ Quốc H phải chấp hành hình phạt của 02 tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ ngày 22/5/2023.
  4. Ngoài ra Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/12/2023, bị cáo Hồ Quốc H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

- Bị cáo Hồ Quốc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Toà án sơ thẩm đã tuyên là quá nặng. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo để có cơ hội trở về với gia đình nuôi dạy con còn nhỏ.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Xét thấy Bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo phạm tội “Giết người” với hai tình tiết định khung được quy định tại điểm 1, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, người bị hại có yêu cầu không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Luật sư chỉ định bào chữa cho bị cáo trình bày: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Giết người” và bị áp dụng hai tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm 1, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Trên thực tế bị cáo không cố ý giết chết bị hại mà chỉ gây thương tích cho bị hại và bị hại chỉ bị thương tích 3%. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như tự nguyện ra đầu thú và bị hại có yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng chưa được Tòa án sơ thẩm xem xét, áp dụng. Xét mức hình phạt mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo H là quá nghiêm khắc. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cân nhắc, khoan hồng cho bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình nuôi dạy con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng của bị cáo Hồ Quốc H làm trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Hồ Quốc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Do mâu thuẫn trong việc bị cáo và anh Phạm Ngọc T2 có quan hệ tình cảm với chị Trần Đặng Ánh N. Nên khoảng 19 giờ ngày 22/01/2023 Hồ Quốc H lấy 01 khẩu súng ngắn màu đen cất trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi từ nhà ở khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh tìm anh T2 để giải quyết mâu thuẫn.

Khi thấy anh T2 điều khiển xe ô tô chở chị N, H điều khiển xe mô tô đi theo xe của anh T2. Anh T2 chạy xe đến cửa hàng mua bán xe ô tô cũ Thạch A thuộc ấp T, xã T, huyện D thì anh T2 điều khiển xe ô tô chạy vào sân của cửa hàng xe. H dừng xe mô tô ngoài đường cách cửa hàng khoảng 10 mét và cầm khẩu súng trên tay đi vào sân cửa hàng. Lúc này anh T2 vừa bước xuống xe, H đi từ phía sau đi đến cách anh T2 khoảng 02 mét H cầm súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6 x 15,5)mm, có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng bắn 01 phát trúng vùng đầu bên trái của anh T2. Chị N nhìn thấy la lên “Anh H làm gì vậy”, H tiếp tục bắn thêm 02 phát chỉ thiên rồi chạy ra đường điều khiển xe mô tô bỏ trốn, anh T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện X1 điều trị đến ngày 30/10/2023 xuất viện. Tại Bản kết luận giám định số: 122/KLTTCT-TTPYTN ngày 22/5/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận: Phạm Ngọc T2 có 01 vết sẹo vùng thái dương trái kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%; 01 vết sẹo mờ vùng thái dương trái kích thước nhỏ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Ngọc T2 là 3%.

Xét thấy chỉ vì mâu thuẫn trong việc quan hệ tình cảm mà bị cáo H đã sử dụng súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6 x 15,5)mm, có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng bắn vào vùng đầu của anh T2, làm cho anh T2 bị tổn thương cơ thể là 3%. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” với tính tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm còn quy kết bị cáo phạm tội giết người với tình tiết định khung tăng nặng “bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” theo điểm 1 khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Bởi vì vị trí mà bị cáo cầm súng bắn bị hại T2 là tại sân của cửa hàng mua bán xe ô tô; thời điểm này thì bị hại T2 vừa bước xuống xe đứng quay lưng ra cổng, bị cáo từ ngoài lộ đi vào sân, khi cách bị hại khoảng 02 mét, H cầm súng bắn vào đầu của bị hại nên không thể có khả năng làm chết nhiều người.

Vì vậy, chấp nhận lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bản tính côn đồ, hung hãn, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Nên cần xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét hậu quả vụ án xảy ra làm cho bị hại Phạm Ngọc T2 bị tổn thương cơ thể là 3%. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt là có căn cứ.

Nhưng xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc. Xét thấy ngoài các tình tiết giảm nhẹ hình sự như bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến được xem xét trong bản án sơ thẩm thì còn có các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo tự nguyện ra đầu thú; người bị hại có văn bản yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo; bị hại và bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại chưa được cấp sơ thẩm xem xét.

Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và lời đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và có đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo Hồ Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
    • - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc H.
  2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về hình phạt đối với bị cáo Hồ Quốc H:

    Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc H phạm các tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

    Xử phạt bị cáo Hồ Quốc H 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hồ Quốc H chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Bị cáo Hồ Quốc H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng; về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/HS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người và tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (hình sự)

  • Số bản án: 319/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giết người và Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc H phạm các tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Xử phạt bị cáo Hồ Quốc H 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội“Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger