Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NHÂN DAN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2024/DS-PT

Ngày 16-7-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

***

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;

Ông Hà Chí Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 255/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số:63/2024/QĐ-PT ngày 28-6-2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số B, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Phan Trí M, sinh năm 1970; nơi cư trú 1: Số C, đường L, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú 2: Số I, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  3. Người kháng cáo: Anh Phan Trí M là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:

Anh và anh M quen biết với nhau; anh M vay tiền của anh nhiều lần, trong đó có 02 khoản vay hiện nay anh M còn nợ anh, cụ thể:

  • Ngày 14-11-2019, anh M vay số tiền 180.000.000 đồng.
  • Ngày 27-01-2022, anh M vay số tiền 50.000.000 đồng.

02 lần vay tiền nêu trên thì anh M viết giấy nhận nợ, ký tên và giao cho anh giữ; các bên không thoả thuận thời hạn trả nợ; lãi suất thoả thuận bằng lời nói 2%/tháng; anh M chưa trả được khoản tiền lãi nào cho anh. Các bên thống nhất khi nào trả xong nợ thì anh trả lại giấy nợ gốc. Anh có đòi tiền nhiều lần nhưng anh M không trả. Nay anh yêu cầu anh M trả tổng nợ gốc cho anh là 230.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày vay cho đến khi giải quyết xong vụ kiện.

Anh Phan Trí M trình bày:

Anh thừa nhận có viết, ký tên vào 02 giấy nợ do nguyên đơn cung cấp và có ý kiến như sau:

- Đối với giấy nợ viết ngày 14-11-2019: Trước thời điểm này anh có vay tiền của anh N nhiều lần, mỗi lần từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng; do không có tiền trả nên cộng dồn nhiều lần tính đến ngày 14-11-2019 thành số tiền là 180.000.000 đồng; lãi suất 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng; khoản nợ này đã thi hành án xong cho anh N tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành.

- Đối với giấy nợ viết ngày 27-01-2022: Anh Vay của anh N 4 lần:

  • + Lần 1: Khi anh thi hành án cho anh N được số tiền 340.000.000 đồng thì anh N rút đơn không yêu cầu thi hành án nữa, khi đó anh và anh N thoả thuận anh nợ lại anh N số tiền 10.000.000 đồng.
  • + Lần 2: Cách lần 01 khoảng 1 tháng anh vay anh của Ngay số tiền 10.000.000 đồng.
  • + Lần 3: Cách khoảng 1-2 tháng lần thứ 2 anh vay của anh N số tiền 15.000.000 đồng.
  • Trong 03 lần vay này thì có làm giấy nợ giao cho anh N giữ.
  • + Lần 4: Ngày 27-01-2022 (nhằm ngày 25-12-2021 AL) anh vay anh N số tiền 15.000.000 đồng.

Như vậy, 04 lần vay nợ tổng cộng là 50.000.000 đồng nên anh viết giấy nợ có nội dung “Có nhận thêm số tiền của anh T Ngay Tổng cộng số tiền trước và sau 50.000.000..”; trong số tiền nợ này tiền nợ gốc khoảng 32.000.000 đồng đến 33.000.000 đồng; còn lại 17.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng là tiền lãi. Khi chốt số tiền 50.000.000 đồng, không có ghi thời hạn trả; anh N tính lãi 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng tức là 350.000 đồng/ngày; anh đã đóng lãi đến tháng 7 năm 2023 Al thì ngưng nên anh N khởi kiện. Anh đồng ý trả số tiền nợ 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định.

Mỗi lần đóng tiền lãi anh đưa trực tiếp cho anh N, không có ký nhận, không có chứng cứ đóng lãi.

Tại phiên toà sơ thẩm anh M trình bày: Khi vay anh có viết và ký giấy nợ cho anh N, anh không nhớ nợ bao nhiêu tiền của anh N, cũng không nhớ viết bao nhiêu giấy nợ cho anh N; nhưng đã trả hết tiền gốc, tiền lãi; hiện nay ông không còn nợ tiền gì của anh N. Anh yêu cầu toà án kiểm tra mốc thời gian vay tiền cho anh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024, của Toà án nhân dân Thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; quyết định:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với ông Phan Trí M.

Buộc ông Phan Trí M có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền là 310.935.000 (Ba trăm mười triệu, chín trăm, ba mươi lăm ngàn) đồng, (trong đó tiền vốn là 230.000.000 đồng, tiền lãi là 80.935.000 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu bên phải thi hành án không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 25-3-2024 anh Phan Trí M kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Anh Phan Trí M trình bày ý kiến, với nội dung: Đối với số tiền 50.000.000 đồng anh xác định còn nợ và đồng ý trả cho anh N. Riêng số tiền 180.000.000 đồng anh đã trả xong cho anh N tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn được làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét đối với “Giấy nợ đề ngày 14-11-2019” và “Giấy nợ đề ngày 25-12-2021 âm lịch” tức là ngày 27-01-2022 dương lịch; là tài liệu của nguyên đơn làm căn cứ khởi kiện; được bị đơn thừa nhận do mình viết, ký tên xác nhận có nợ nguyên đơn các khoản tiền, gồm 180.000.000 đồng và 50.000.000 đồng; do đó, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nội dung của các giấy mượn tiền không có thoả thuận thời hạn trả nợ nên được xác định là hợp đồng vay không kỳ hạn. Nguyên đơn cho rằng lãi suất là 2%/tháng, bị đơn cho rằng lãi suất 21%/tháng; không ai cung cấp được chứng cứ chứng minh về lãi suất, cũng như tài liệu, giấy tờ về việc giao nhận tiền lãi; nên thuộc trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất; do vậy, áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì lãi suất được xác định 10%/năm.

[2.2] Bị đơn xác nhận chưa thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ 50.000.000 đồng ngày 27-01-2022; nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc anh M có trách nhiệm trả cho anh N số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi được tính từ ngày 27-01-2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (12-3-2024) là 02 năm 01 tháng 14 ngày, thành số tiền lãi là 10.568.000 đồng; là có căn cứ theo quy định tại các Điều 466, 469 của Bộ luật Dân sự.

[2.2] Đối với số nợ 180.000.000 đồng thì anh M cho rằng đã trả xong cho anh N tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh, thấy rằng:

[2.2a] Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án số 92/2020/TLST-DS ngày 24-4-2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N đối với anh Phan Trí M và chị Phan Thị Ngọc K, nội dung yêu cầu trả số tiền 360.000.000 đồng theo Hợp đồng vay ngày 23-8-2019 đối với số tiền 270.000.000 đồng và giấy nợ số tiền 90.000.000 đồng không ghi ngày tháng năm; các đương sự thống nhất hoà giải thành ngày 19-5-2020 nên Toà án ban hành Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 26/2020/QÐST-DS ngày 27-5-2020 có nội dung: Anh M và chị K cùng có nghĩa vụ trả cho anh N số tiền 350.000.000 đồng.

[2.2b] Hồ sơ do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh (sau đây gọi tắt là Chi cục Thi hành án) cung cấp thể hiện: Ngày 01-6-2020 Chi cục Thi hành án ban hành Quyết định thi hành theo yêu cầu số 143/QĐ-CCTHADS, có nội dung: Cho thi hành án đối với anh Phan Trí M và chị Phan Thị Ngọc K trả cho anh Nguyễn Văn N số tiền là 350.000.000 đồng. Trong quá trình thi hành án thể hiện anh M và chị K đã nộp tại Chi cục Thi hành án số tiền 21.250.000 đồng, trả tại nhà cho anh N số tiền 260.000.000 đồng, số tiền còn lại là 68.750.000 đồng và lãi chậm thi hành án do anh N có đơn rút yêu cầu thi hành án nên Chi cục Thi hành án đã ban hành Quyết định số 34/QĐ.CCTHADS ngày 28-4-2021 về việc đình chỉ thi hành án; vụ việc thi hành án kết thúc.

[2.2c] Như vậy, xét về mặt thời gian thì giấy nợ ngày 14-11-2019 số tiền 180.000.000 đồng không trùng với 02 giấy nợ nêu trên; xét về số liệu của khoản vay cũng không có mối liên nào với 02 khoản vay nêu trên điều này phù hợp với lời trình bày của anh M tại biên bản lấy lời khai ngày 14-6-2024, có nội dung: Anh có vay tiền của anh N nhiều lần, mỗi lần từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, không có tiền trả nên cộng dồn nhiều lần tính đến ngày 14-11-2019 anh viết giấy nợ và ký tên cho anh N nợ tổng số tiền là 180.000.000 đồng. Mặc khác, bị đơn không cung cấp được chứng cứ nào khác để thể hiện số tiền 180.000.000 đồng nằm trong 02 khoản vay nêu trên cũng như tài liệu, giấy tờ thể hiện có thanh toán được số tiền sau ngày phát sinh nghĩa vụ vay 14-11-2019 nên không có cơ sở để xem xét.

[2.3d] Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng bị đơn phản đối yêu cầu của người khác có trách nhiệm thu thập, cung cấp, giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhưng không chứng minh được mình đã hoàn thành xong nghĩa vụ trong giao dịch dân sự; nên Toà án giải quyết theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đây cũng là cơ sở để không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc anh M có trách nhiệm trả cho anh N số tiền nợ gốc 180.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 14-11-2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (12-3-2024) với lãi suất 10%/năm; là có căn cứ theo quy định tại các Điều 466, 469 của Bộ luật Dân sự. Nhưng Toà án cấp sơ thẩm tính ra thời hạn là 03 năm 11 tháng 03 ngày là chưa đúng mà phải là 04 năm 3 tháng 27 ngày, tuy nhiên, do nội dung này không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm giữ nguyên; đề nghị cần rút kinh nghiệm.

[3] Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phan Trí M, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên anh M phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 26, 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với anh Phan Trí M.

    Anh Phan Trí M có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Văn N số tiền 310.935.000 (ba trăm mười triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn) đồng; trong đó, bao gồm: Nợ gốc là 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng và tiền lãi là 80.935.000 (tám mươi triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn) đồng.

  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:
    1. Anh Phan Trí M phải chịu 15.546.750 (mười lăm triệu năm trăm bốn mươi sáu ngàn bảy trăm năm mươi) đồng.
    2. Anh Phan Trí M phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm; ghi nhận anh M đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo tại Biên lai thu số 0010968, ngày 27-03-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; được khấu trừ; anh M nộp xong án phí phúc thẩm.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND T.X Hoà Thành;
  • - Chi cục THADS T.X Hoà Thành;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 319/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu anh Minh trả tổng nợ gốc cho anh là 230.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày vay cho đến khi giải quyết xong vụ kiện.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger