Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 318/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 11 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương.

Bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 339/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lường Văn H, sinh năm 1992 tại Thanh Hóa; Đăng ký thường trú: Thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn M (đã chết) và bà Cao Thị L; Vợ: Lê Thị N (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không; tiền sự: Không. D chỉ bản số: 319 ngày 07/6/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Bị bắt khẩn cấp ngày 30/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Nguyễn Khắc T, sinh năm 1987 tại Thanh Hóa; Đăng ký thường trú: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc T1 (đã chết) và bà Phùng Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị H1, có 02 con lớn sinh năm 2008 con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: Không; tiền sự: Không. D chỉ bản số: 318 ngày 07/6/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Bị bắt khẩn cấp ngày 30/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
  3. Họ và tên: Đỗ Văn M1, sinh năm 1980 tại Nam Định; Đăng ký thường trú: Thôn A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: G đường H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc Đ và bà Phạm Thị T3; Vợ: Vũ Thị N1, có 02 con lớn sinh năm 2002 con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; tiền sự: Không. D chỉ bản số: 318 ngày 07/6/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Bị bắt khẩn cấp ngày 30/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa)

Lường Văn H, Nguyễn Khắc T -Điều 173; Đỗ Văn M– Điều 323

2/7

Bị hại: Cục V Bộ C; Địa chỉ: Số H T, quận C, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền là ông Ngô Đức D1 – chức vụ Phó trưởng phòng và ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1983- Cán bộ (Ông Q có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khắc T và Lường Văn H cùng làm công việc đào đất, nạo vét cống và thường xuyên gửi dụng cụ và bán phế liệu cho cửa hàng của Đỗ Văn M1 và chị Vũ Thị N1 tại địa chỉ số G đường H, phường C, quận H, TP .. Khi T và H làm làm tại khu vực phố T, phường N, quận H, TP . thì phát hiện có hệ thống đường dây cáp ngầm nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 19h ngày 25/5/2024, T điều khiển xe máy Honda Future không gắn biển kiểm soát chở H đến cửa hàng của M1 để lấy kìm cộng lực, xà beng, xà cầy để làm dụng cụ đi trộm cắp tài sản và có nói với M1 là đi làm. Khoảng 2h00' ngày 26/5/2024, T chở H đến trước số B T, quận H, TP .. Lúc này, T dựng xe máy tại vỉa hè cạnh bậc lên xuống hồ T rồi T cầm xà cầy, H cầm xà beng, kìm cộng lực tiến lại gần bể cáp trên vỉa hè hồ T khu vực ngã ba T - N, phường N, quận H, TP .. T và H mở nắp bể cáp rồi T dùng kìm cộng lực cắt đầu dây cáp thông tin. Sau đó, T và H tiếp tục đi đến bể cáp gần khu vực đó mở nắp bể để cắt dây cáp. Khi đã cắt đứt được hai đầu dây cáp thì T và H quay lại bể cáp trước số B T rồi cả hai dùng tay kéo dây cáp lên cuộn lại và bê lên yên xe máy. Sau đó, T điều khiển xe máy chở H ngồi phía sau trong vòng dây cáp đi đến số G đường H, phường C, quận H, TP . để bán cho M1. Khoảng 4h cùng ngày, H và T đến cửa hàng và gọi M1 ra, còn chị N1 vẫn ngủ ở trong nhà. Sau đó, H và T dùng kìm cắt số dây cáp thông tin thành các đoạn nhỏ để rút lõi đồng. Số lõi đồng T và H rút ra từ dây cáp được cho vào bao tải và cân được khoảng 82kg. H, T có nói với M1 nguồn gốc số dây cáp này do trộm cắp được mà có nhưng M1 vẫn thỏa thuận mua lại số lõi đồng rút được với giá 120.000đồng/1kg. Hai bên thỏa thuận và M1 trả cho H số tiền mặt là 9.840.000đồng. Sau đó H và T điều khiển xe máy về phòng trọ tại khu vực Đê T, quận H, TP .. Đối với số tiền bán được H chia đôi và đưa cho T 4.920.000đồng, số tiền 4.920.000đồng còn lại H giữ để tiêu xài cá nhân. Khoảng 8h30' cùng ngày, chị T4 (người chuyên thu mua phế liệu của M1) đến cửa hàng của M1 để mua phế liệu thì M1 đã bán số lõi đồng đã mua của T, H với giá 11.480.000đồng để hưởng lợi số tiền 1.640.000đồng chênh lệch. Ngày 27/5/2024, anh Nguyễn Hoàng Q là cán bộ Cục V cơ yếu Bộ C trình báo Cơ quan Công an về việc Cục đã bị mất trộm số tài sản là 1 sợi cáp thông tin màu đen có chiều dài khoảng 59m, đường kính 3cm, bên trong có 02 sợi, mỗi sợi gồm 200 đôi cáp được bọc bằng nhựa các màu xanh, đỏ, vàng, trắng đường kính mỗi sợi 0,5mm. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Khắc T, Lường Văn H những vật chứng sau: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu xanh không đeo BKS; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 đôi dép cao su màu trắng; 01 chiếc kìm cộng lực; 01 xà beng; 01 xà cày.

Ngoài vụ trộm cắp tài sản nêu trên, H và T khai còn thực hiện 02 vụ trộm cắp dây cáp thông tin tại khu vực vỉa hè ngõ G phố H, phường N, quận T, TP . vào khoảng cuối tháng 4/2024 và mang đi bán cho M1 được số tiền 6.800.000đồng.

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T-Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

3/7

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T có công văn đề nghị Cơ quan công an quận H thụ lý, giải quyết đối với 02 vụ trộm cắp tài sản này. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H tra đã rà soát khu vực vỉa hè ngõ G phố H nhưng không xác định được bị hại, nhân chứng, camera ghi lại hình ảnh nội dung sự việc. Không có ai đến Công an phường trình báo bị trộm cắp tài sản dây cáp thông tin vào khoảng thời gian nêu trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với T và H về hành vi trộm cắp tài sản và đối với M1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với hai vụ việc nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS đề ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự quận H, thành phố Hà Nội kết luận: “01(một) sợi cáp thông tin màu đen nhãn hiệu Vinacap 200×02×0,5; có chiều dài 59m, đường kính 3cm, bên trong có 02 sợi, mỗi sợi gồm 200 đôi cáp (tổng 400 sợi cáp nhỏ bằng đồng) được bọc bằng nhựa các màu xanh, đỏ, vàng, trắng đường kính mỗi sợi 0,5mm, đã qua sử dụng từ tháng 6/2017 có giá trị 10.000.000đồng”. Đối với chị Vũ Thị N1, tại Cơ quan điều tra, N1 khai nhận: H và T đã nhiều lần bán dây cáp tại cửa hàng từ khoảng tháng 4/2024 đến nay. Những lần thu mua dây cáp của H và T thì M1 là người đứng ra mua, chị N1 không biết nguồn gốc của số dây cáp này. Tối ngày 26/5/2024, M1 mới kể lại sự việc mua dây cáp đồng của H và T rồi bán lại cho bà T4 cho chị N1 thì chị mới biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với chị Vũ Thị N1 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đối với chị T4 (người chuyên thu mua phế liệu của M1), M1 khai không biết nhân thân, lai lịch của chị T4, chị T4 thường xuyên thu mua phế liệu tại cửa hàng của M1. Khi mua số lõi đồng cáp thông tin thì bà T4 không biết số tài sản này do trộm cắp được mà có. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với chị T4 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Future không đeo BKS mà T sử dụng đèo H để trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định: Theo kết luận giám định số 4544/KL-KTHS ngày 25/6/2024 kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Honda Future không đeo BKS, có số khung nguyên thuỷ là: RLHJA02031Y286931, số máy nguyên thủy là: JA02E0286964. H khai mua chiếc xe cũ trên tại khu vực Chương Dương Đ1 từ một người không quen biết, khi mua H không biết nguồn gốc chiếc xe máy nêu trên. Chiếc xe trên được đăng ký đứng tên ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1959, trú tại: Số A ngách B đường H, phường L, quận B, TP .. Ông Đ2 khai nhận: Khoảng tháng 12 năm 2001, ông Đ2 có mua chiếc xe máy trên, đăng ký chính chủ và được cấp BKS: 29N1 - 1648. Ông Đ2 sử dụng chiếc xe máy trên đến khoảng tháng 5 năm 2024 thì bị trộm cắp trên phố M, quận H, TP .. Sau đó, ông Đ2 không đến Cơ quan Công an trình báo về việc này. Ông Đ2 cung cấp được đăng ký của chiếc xe và có đơn xin nhận lại tài sản. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu đối với chiếc xe máy trên để chuyển giải quyết theo thẩm quyền. Đối với chiếc kìm cộng lực, xà beng, xà cày, thu giữ của các bị cáo, đây là dụng cụ H, T sử dụng để trộm cắp tài sản.

Về phần trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ngày 20 tháng 9 năm 2024 bị hại thay đổi quan điểm về yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các bị cáo. Do vậy Hội

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T-Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

4/7

đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngày 29/10/2024 bị hại có văn bản nêu quan điểm về vấn đề bồi thường dân sự đối vụ án và yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 32.386.000đồng.

Bản cáo trạng số 239/CT -VKS ngày 22/08/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố, Lường Văn H và Nguyễn Khắc T về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Đỗ Văn M1 về tội: "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn H từ 12 đến 15 tháng tù. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T từ 12 đến 15 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn M1 từ 06 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lường Văn H và bị cáo Nguyễn Khắc T liên đới bồi thường cho bị hai theo quy định của pháp luật. Về vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 102 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, 01 xà beng, 01 xà cầy, 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 đôi dép cao su màu trắng không còn giá trị sử dụng.Truy thu số tiền bị cáo Đỗ Văn M1 hưởng lợi bất chính với số tiền là 1.640.000đồng.

Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Khoảng 2h00' ngày 26/5/2024, tại khu vực vỉa hè hồ T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T có hành vi trộm cắp 01 (một) sợi cáp thông tin màu đen nhãn hiệu Vinacap 200 × 02 × 0,5; có chiều dài 59m, đường kính 3cm, bên trong có 02 sợi, mỗi sợi gồm 200 đôi cáp (tổng 400 sợi cáp nhỏ bằng đồng)

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T-Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

5/7

được bọc bằng nhựa các màu xanh, đỏ, vàng, trắng đường kính mỗi sợi 0,5mm, có giá trị 10.000.000đồng của Cục V Bộ C (H04). Sau đó, đến khoảng 4h cùng ngày, T và H rút số lõi đồng từ đoạn dây cáp nêu trên và bán cho Đỗ Văn M1 với giá 9.840.000đồng. Đối với bị cáo M1 biết rõ số cáp thông tin trên do T và H trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý mua để bán lại kiếm lời với số tiền 1.640.000đồng. Do đó đủ căn cứ khẳng định các bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Văn M1 phạm tội: "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan tổ chức được pháp luật bảo vệ, hành vi trộm cắp đoạn cáp thông tin này đã gây ảnh hưởng đến an ninh an toàn thông tin đến công tác lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo chiến đấu cho các đơn vị của Bộ C, mặt khác còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Trong vụ án này đối với tội trộm cắp tài sản có đồng phạm nhưng giản đơn, đánh giá vai trò của các bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản xác định bị cáo H và bị cáo T có vai trò ngang nhau, nên khi áp dụng mức hình phạt đối với hai bị cáo với mức án bằng nhau. Đối với bị cáo M1 khi mua bán tài sản biết rõ tài sản này do phạm tội mà có nhưng bị cáo vẫn cố ý mua rồi bán lại cho người khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo M1 có bố là ông Đỗ Ngọc Đ được nhà nước tặng thưởng nhiều huy chương các loại và gia đình bị cáo đã nộp lại số tiền thu lời bất chính để sung công quỹ nhà nước. Đó là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 32.386.000đồng bao gồm chi phí khắc phục thiệt hại do các bị cáo gây ra. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho bị hại số tiền này. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Hành vi của các bị cáo xét về lỗi là do các bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T gây ra, xác định lỗi ngang nhau; do vậy cần buộc hai bị cáo phải bồi thường cho bị hại, cụ thể: Buộc bị cáo Lường Văn H phải bồi thường cho bị hại là Cục V cơ yếu Bộ C (H04) số tiền 16.193.000đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T phải bồi thường cho bị hại là Cục V cơ yếu Bộ C (H04) số tiền 16.193.000đồng.

[4] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, 01 xà beng, 01 xà cầy là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng và 01 chiếc áo sơ mi dài tay

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T -Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

6/7

màu xanh và 01 đôi dép cao su màu trắng thu giữ của các bị cáo không còn giá trị sử dụng.

Cần truy thu số tiền bị cáo Đỗ Văn M1 hưởng lợi bất chính là 1.640.000đồng để sung công quỹ nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo H và bị cáo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn HNguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Đỗ Văn M1 phạm tội: "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lường Văn H: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn M1: 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc hai bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T phải liên đới bồi thường cho bị hại, cụ thể: Buộc bị cáo Lường Văn H phải bồi thường cho bị hại là Cục V cơ yếu Bộ C (H04) số tiền 16.193.000đồng (Mười sáu triệu, một trăm chín mươi ba triệu đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T phải bồi thường cho bị hại là Cục V cơ yếu Bộ C (H04) số tiền 16.193.000đồng (Mười sáu triệu, một trăm chín mươi ba triệu đồng).

Truy thu số tiền bị cáo Đỗ Văn M1 hưởng lợi bất chính là 1.640.000đồng để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo Đỗ Văn M1 đã nộp số tiền thu lời bất chính 1.640.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0003524 ngày 20/11/2024 của Chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T -Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

7/7

án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, 01 xà beng, 01 xà cầy, 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh và 01 đôi dép cao su màu trắng (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 278/24 ngày 17/09/2024).

Về án phí: Các bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T và Đỗ Văn M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Lường Văn H và Nguyễn Khắc T mỗi bị cáo phải chịu 809.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Hai Bà Trưng.
  • - VKS TP. Hà Nội
  • - Công an Q. Hai Bà Trưng.
  • - Bị cáo.
  • - Bị hại
  • - Lưu./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Tiến

Lường Văn H & Nguyễn Khắc T-Điều 173; Đỗ Văn M – Điều 323

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (điều 173) và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323)

  • Số bản án: 318/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Điều 173) và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger