TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 318/2024/HSST Ngày 15-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy và bà Nguyễn Thị Nhung
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thùy Dương, Thư ký Toà án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên
toà: Bà Ngô Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 306/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024, đối với các bị cáo:
NGUYỄN THỊ Q
, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 5 năm 1996, tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện nay: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị L; chưa có chồng, có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến nay, (có mặt).
NGUYỄN MẠNH T1
, tên gọi khác: Không; sinh ngày 21 tháng 12 năm 1974, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy T2 và bà Phạm Thị T3; có vợ là Ma Thị T4 và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.Nhân thân: Tại Bản án số 154/2014/HSST ngày 22/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 30 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Tiến D, sinh năm 1960, địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 05 phút ngày 26/7/2024, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực gần cầu G thuộc tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện Nguyễn Mạnh T1 là lái xe taxi hãng B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10, BKS: 20A – 125.07 đang dừng đỗ ở lề đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, Nguyễn Mạnh T1 tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải T1 đang mặc giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T1 khai là Ketamine mua của người phụ nữ tên Q nhà ở gần trường Cao đẳng tài chính, thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu T và thu giữ theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác thu giữ của T1 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Samsung và 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 có BKS: 20A – 125.07.
Hồi 22 giờ 00 phút ngày 26/7/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Thị Q tại tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khám xét:
- Q đã tự giác giao nộp từ vị trí áo ngực bên phải Q đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu K).
- Tại tủ quần áo trong phòng ngủ tầng 2 phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu vàng cam bên trên mặt có dòng chữ MANGO FRUIT TEA bên trong có chứa các cục chất bột màu cam; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu K1); 01 điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Iphone và 10 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng kích thức 4x6cm.
Ngày 27/7/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Quỳnh . Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân xác định trọng lượng:
- Số chất bột màu trắng ký hiệu T có khối lượng 2,134 gam (niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định);
- Số chất tinh thể màu trắng ký hiệu K có khối lượng 3,031 gam (niêm phong ký hiệu A gửi giám định);
- Số các cục chất bột màu cam có khối lượng 4,883 gam và chất tinh thể màu trắng ký hiệu K1 có khối lượng 1,611 gam (niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 881/KL-KTHS, ngày 04/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 2,134 gam.
Tại Kết luận giám định số 880/KL-KTHS, ngày 04/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 3,031 gam.
Tại Kết luận giám định số 5724/KL-KTHS, ngày 04/8/2024 của V1 Bộ C kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng ký hiệu K1 là chất ma túy, loại Ketamine, hàm lượng Ketamine: 85,4% (1,357 gam), có khối lượng thu giữ ban đầu là 1,611 gam;
- Các cục chất bột màu cam ký hiệu K1 là chất ma túy, tìm thấy các chất Methamphetamine: 6,5% (0,314 gam), Nimetazepam: 1,2% (0,057 gam), MDMA, Ketamine. Lượng MDMA và Ketamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp phân tích nên không xác định được hàm lượng và khối lượng MDMA và Ketamine có trong mẫu, có khối lượng thu giữ ban đầu là 4,833 gam.
Tại Cơ quan điều tra:
- Nguyễn Mạnh T1 khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, T1 điều khiển xe ô tô taxi Bình An mang BKS: 20A – 125.07 đến nhà của Nguyễn Thị Q tại tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để mua 01 gói Ketamine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 5.000.000 đồng, mục đích mua ma túy để bán kiếm lời. Mua xong, T1 cất giấu ma túy vào túi quần bên phải rồi đi tìm khách mua ma túy. Khi đang đỗ ở lề đường đợi khách tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
- Nguyễn Thị Q khai nhận: Nguồn gốc số ma túy Q bán cho T1 là được Trần Hải V cho tại nhà Q vào ngày 27/6/2024. Số ma túy thu giữ tại nơi ở của Q là do Q đã xin của người đàn ông tên T5, không rõ lai lịch nhà ở Tuyên Quang cho, Q không nhới rõ cụ thể thời gian và địa điểm cho ma túy. Sau khi xin được ma túy của V và T5, Q mang về nơi ở để cất giấu đợi khi khách có nhu cầu mua sẽ bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, Q bán cho T1 01 gói Ketamine, với giá 5.000.000 đồng, ngoài ra Q chưa bán cho ai.
Vật chứng của vụ án:
02 (hai) bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu A, A1 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu K1, số 5724/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu Đ1 bên trong chứa điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, đã qua sử dụng; 10 (mười) túi nilon màu trắng kích thước 4x6 cm, chưa qua sử dụng. Số vật chứng trên được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, chờ xử lý.
Xe ô tô Huyndai Grand i10 có BKS: 20A – 125.07 quá trình điều tra xác định ông Lê Tiến D – đại diện Công ty TNHH D1 là chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho ông D quản lý, sử dụng;
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T, Kết luận giám định của V1 Bộ C và việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Cáo trạng số 310/CT-VKS-TPTN, ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Q và Nguyễn Mạnh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề, cụ thể như sau:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Q, Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 02 bì niêm phong ký hiệu K1, số 5724/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 02 bì niêm phong ký hiệu A, A1 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật; 10 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng kích thước 4x6cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 351662610699276/01; số EMEI1: 351662610699276/01; số IMEI2: 352465210699277/01, gắn sim điện thoại số thuê bao 0338.845.xxx được niêm phong trong bì niêm phong kí hiệu H1 (thu giữ của Nguyễn Mạnh T1) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, đã qua sử dụng, IMEI: 355319543741362, gắn sim điện thoại số thuê bao 0985.503.xxx được niêm phong trong bì ký hiệu Đ1 (thu giữ của Nguyễn Thị Q);
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để sớm có cơ hội trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 26/7/2024, tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Mạnh T1 đang có hành vi tàng trữ 2,134 gam chất ma túy loại Ketamine mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Quá trình điều tra xác định nguồn gốc số ma túy T1 tàng trữ là do T1 mua của Nguyễn Thị Quỳnh . Ngày 27/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Q tại tổ D, phường T, thành phố T, phát hiện Q có hành vi tàng trữ 4,388 gam chất ma túy loại Ketamine; 0,314 gam chất ma túy loại Methamphetamine; 0,057 gam chất ma túy loại Nimetazepam mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra, theo kết luận giám định số 5724/KL-KTHS, ngày 08/8/2024 của V1 Bộ C, còn có lượng MDMA và Ketamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng nên không xác định được hàm lượng và khối lượng MDMA và Ketamine có trong mẫu gửi giám định.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thị Q và Nguyễn Mạnh T1 đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật, điều luật có nội dung:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc phân công tổ chức, cấu kết chặt chẽ, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2014 bị cáo T1 đã bị Tòa án xét xử 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, bị cáo không chịu tu dưỡng trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội, bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt; bị cáo Q phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có mẹ đẻ là bà Phạm Thị T3 được Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Xét thấy, các bị cáo đều là người hiểu biết pháp luật nhưng không chịu lao động lại muốn kiếm tiền nhanh chóng bằng cách bất hợp pháp, đáng lẽ các bị cáo phải tích cực lao động, sống có ích cho xã hội và là tấm gương sáng cho thanh niên nhưng các bị cáo lại thực hiện việc mua bán cái chết trắng, để rồi gieo rắc bao nỗi đau cho các gia đình có thân nhân mắc vào con đường nghiện hút chất ma tuý.
Hội đồng xét xử, thấy: Bị cáo T1 đã từng bị Tòa án xét xử về tội Đánh bạc, nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học tự giáo dục, rèn luyện để trở thành công dân tốt, lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội, cần lên một mức án phù hợp để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung; Bị cáo Q có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình éo le, bản thân bị cáo Q là mẹ đơn thân một mình nuôi con nhỏ 5 tuổi. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước, đồng thời cũng tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời nhưng vẫn đảm bảo tính cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm, là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm lời, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung đó là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 06 bì niêm phong ký hiệu (T1, T2, K1, số 5742/KL-KTHS, A, A1), xác định đây là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, xét thấy cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với 10 (mười) túi nilon màu trắng kích thước 4x6cm là vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Mạnh T1 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị Q, Hội đồng xét xử xác định, đây là những chiếc điện thoại các bị cáo sử dụng để liên lạc, giao dịch mua bán trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe ô tô Huyndai Grand i10 có BKS: 20A – 125.07 đã được trả cho ông Lê T6, đại diện Công ty TNHH D1, là chủ sở hữu quản lý, sử dụng, xét thấy là đúng quy định pháp luật.
[10] Về nguồn gốc số ma túy Q bán cho T1, Q khai được Trần Hải V cho ngày 27/6/2024. Quá trình điều tra, V không thừa nhận hành vi cho ma túy Nguyễn Thị Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Đối với số ma túy bị thu giữ tại nơi ở của Q, tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Q khai được một người đàn ông tên T5 không rõ lai lịch địa chỉ cho nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Đối với Công ty TNHH D1 –D1 và ông Lê Tiến D, không biết việc T1 sử dụng chiếc xe ô tô để tàng trữ ma túy bán kiếm lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Q, Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền các bị cáo Nguyễn Mạnh T1 và Nguyễn Thị Q, mỗi bị cáo 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1 (bên trong chứa 2,068 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Phòng KTHS Công an tỉnh T).
- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A (bên trong có chứa 2,761 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Phòng KTHS Công an tỉnh T).
- 01 bì niêm phong đúng quy định kí hiệu A1 (bên trong có chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T).
- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T2 (bên trong có chứa vỏ bao gói mẫu niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T).
- 01 bì niêm phong đúng quy định số 5724/KL-KTHS (bên trong có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của V1 - Bộ C).
- 10 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng kích thước 4x6 cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Mạnh T1, được niêm phong trong bì niêm phong đúng quy định kí hiệu H1, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị Q, trong bì niêm phong đúng quy định, ký hiệu Đ1, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 20 ngày 30/10/2024, giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Tịch thu tiêu hủy:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Mạnh T1 và Nguyễn Thị Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 318/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 318/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Quỳnh và đồng phạm
