Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 318/2024/HSST

Ngày 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn C
    • Ông Đỗ Đắc T3
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Trang – Cán bộ Toà án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ T4 - Kiểm sát viên.

Ngày 08/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 283/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Thị Tuyết A, sinh năm: 2001; HKTT: Số B, ngách C N, tổ F, phường Y, Cầu G, Hà Nội.; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông: Đỗ Đình T và bà Vũ Thị H; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có chồng con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bị tạm giam từ ngày 03/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Số giam: 4107E2/Bệnh xá.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 35 phút, ngày 02/8/2024, tổ công tác Đ Công an quận N phối hợp cùng Công an phường M tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn H3 (địa chỉ số A phố T, phường M, quận N, Hà Nội) phát hiện Kiều Văn T1 (sinh năm: 1991, HKTT: 1073A đường N (KP28), phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số F P, phường T, quận B, Hà Nội) đang bán dâm cho Nguyễn Văn X (sinh năm: 1998, HKTT: Xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Tổ A, phường P, quận N, Hà Nội) tại phòng 403 của khách sạn. Tổ công tác lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa những người liên quan về trụ sở làm rõ.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 19 giờ ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn X, Lê Anh T2 (Sinh năm 1996; Trú tại phường T, quận N, Hà Nội), Nguyễn Văn H1 (tức H2 – sinh năm: 1987, NKTT: Y, Cầu G, Hà Nội) rủ nhau đi ăn tại nhà hàng T3 (địa chỉ B8-BT3, phố L, N, Hà Nội). Trong khi ngồi ăn uống H1 lên mạng xã hội để tìm thêm bạn nữ đến ăn, uống bia cùng mình và X, T2, lúc này có người sử dụng tài khoản zalo “Mai Ngọc” đã đăng lại thông tin tìm người đến ăn cùng nhóm của H1 trên nhóm zalo “Sự kiện H” thì Đỗ Thị Tuyết A nhận lời “Mai Ngọc” đến ăn, uống bia cùng nhóm của H1, các bên thỏa thuận tiền công Tuyết A đến ăn cùng nhóm của H1 là 1.500.000 đồng. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Tuyết A đến nhà hàng T3 để ăn, uống bia cùng nhóm của X, T2, H1. Trong lúc H1 đi vệ sinh, X (X giới thiệu tên là D sinh năm 1991, hiện đang làm tại cửa hàng X1) nhờ Tuyết A gọi giúp X 01 bạn nữ bán dâm cho X nên Tuyết A đã sử dụng tài khoản zalo “Snow Eng” (được đăng ký bằng số điện thoại 0853.969.xxx của Tuyết A) liên hệ với “Mai N” để nhờ “Mai N” tìm giúp X 01 gái bán dâm. “Mai N” thông qua người sử dụng tài khoản zalo “Su Su” được “Su Su” giới thiệu Kiều Văn T1 (sử dụng tài khoản zalo Kiều Mai A1) có nhu cầu bán dâm, “Su Su” thỏa thuận với T1 giá bán dâm là 3.000.000 đồng/lượt, ngồi ăn cùng với khách thu phí 1.300.000 đồng, T1 đồng ý. “Mai Ngọc” đã gửi hình ảnh của Kiều Văn T1 cho Tuyết A để Tuyết A cho X xem thì X đồng ý mua dâm Tiền. “Mai N” báo cho Tuyết A biết giá mua, bán dâm với T1 là 8.000.000 đồng/lượt, giá T1 đến ngồi ăn cùng là 1.300.000 đồng, Tuyết A báo lại giá mua, bán dâm cho X thì X đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong, X đưa cho Tuyết A 9.500.000 đồng (bao gồm 8.000.000 đồng tiền mua dâm, 1.300.000 đồng phí T1 đến ngồi ăn cùng, X cho thêm Tuyết A 200.000 đồng do Tuyết A giúp X gọi gái bán dâm). Sau khi nhận được số tiền 9.500.000 đồng từ X, Tuyết A đã sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0853969346 của Tuyết A chuyển 4.000.000 đồng công môi giới mại dâm vào tài khoản ngân hàng V số 06110011985907, chủ tài khoản Nguyen Xuan Dung cho “M” như thỏa thuận. Tuyết A sẽ trả cho Kiều Văn T1 4.800.000 đồng (bao gồm 3.500.000 đồng tiền Tiền bán dâm – trong đó có 500.000 đồng tiền công môi giới của “Su su”, 1.300.000 đồng tiền T1 ngồi ăn cùng nhóm của X) sau khi T1 bán dâm cho khách xong. Tuyết A hưởng lợi 700.000 đồng.

Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, Kiều Văn T1 một mình đón xe taxi đến nhà hàng T3 để gặp nhóm X, H1, T2, Tuyết A. Tuyết A và X ra đón T1, sau khi ngồi ăn uống chung khoảng 15 phút, X cùng T1 đón taxi đi thuê phòng 403 của khách sạn H3 (địa chỉ số A phố T, phường M, quận N, Hà Nội) để mua bán dâm như đã thỏa thuận còn H1, T2, Tuyết A tiếp tục ngồi ăn với nhau tại nhà hàng T3. Tuyết A nhắn tin cho T1 với nội dung sau khi T1 bán dâm xong thì Tuyết A sẽ thanh toán tiền bán dâm cho T1. Trong lúc X và T1 đang quan hệ tình dục với nhau tại phòng 403 của khách sạn H3 thì bị tổ công tác Đ - Công an quận N tiến hành kiểm tra, phát hiện. Tại chỗ, X và T1 đều khai nhận có hành vi mua, bán dâm do Tuyết A giới thiệu. Cơ quan điều tra đã tiến hành đến nhà hàng T3 mời những người liên quan về trụ sở làm rõ nội dung sự việc.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 bao cao su đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Văn T1);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, imei: 350727303369221, lắp sim số 0962.152.404 (thu giữ của Kiều Văn T1).
  • - Tiền mặt: 9.500.000 đồng (thu giữ của Đỗ Thị Tuyết A);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu trắng, imei: 353187657706469, lắp sim số 0853.969.316 (thu giữ của Đỗ Thị Tuyết A);

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị Tuyết A, đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với giới tính của Kiều Văn T1, T1 khai nhận: Từ khi sinh ra cho đến năm 2019, T1 có giới tính nam, có bộ phận sinh dục nam nhưng T1 có tình cảm với nam giới. Tháng 8/2019, T1 đi Thái Lan làm phẫu thuật chuyển sang giới tính nữ, phẫu thuật bộ phận sinh dục nam thành bộ phận sinh dục nữ, phẫu thuật cho ngực to ra như ngực phụ nữ bình thường. Từ đó đến nay, T1 sinh hoạt theo giới tính nữ tuy nhiên T1 chưa làm lại giấy tờ tùy thân chuyển sang giới tính nữ. Đối với hành vi bán dâm của T1, ngày 01/10/2024, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2099 về hành vi “bán dâm”, theo Khoản 1 điều 25 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ. Hình thức phạt tiền, mức phạt 400.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn X có hành vi mua dâm. Ngày 01/10/2024, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2100 về hành vi “mua dâm”, theo Khoản 1 điều 24 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính P, mức phạt 1.500.000 đồng/người.

Đối với khách sạn H4 do anh Nguyễn Văn Nghĩa L chủ khách sạn. Anh Nghĩa L người cho X, T1 thuê phòng 403 của khách sạn, quá trình cho X, T1 thuê phòng, anh N1 không kiểm tra giấy tờ tùy thân, lưu lại thông tin của X, T1 theo quy định. Anh N1 không biết việc X, T1 thuê phòng 403 của khách sạn để thực hiện hành vi mua, bán dâm. Ngày 01/10/2024, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2101 đối với khách sạn H4 về lỗi không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 01 – 03 người lưu trú trở lên theo quy định tại điểm đ, khoản 2, điều 9 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Mức phạt 1.500.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn H1 – là người lên mạng xã hội tìm thuê được Đỗ Thị Tuyết A đến ngồi ăn uống cùng với giá 1.500.000 đồng. Tuy nhiên do H1 không biết và không tham gia vào việc Tuyết A môi giới Kiều Văn T1 bán dâm cho Nguyễn Văn X do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với tài khoản 0611001985907 mang tên Nguyen Xuan D1 mở tại Ngân hàng V. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Nguyễn Xuân D2 (sinh năm: 1979, HKTT: số D, Tập thể Đ, phường N, B, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, D2 khai: Tối ngày 02/8/2024, D2 được một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không quen biết) hỏi có tiền mặt không và nhờ nhận hộ số tiền 4.000.000 đồng chuyển khoản, do đang có tiền mặt trong người nên D2 đồng ý nhận hộ vào tài khoản của D2 sau đó đưa tiền mặt cho người đàn ông trên. D2 không biết nguồn gốc số tiền trên. Do D2 không biết nhân thân người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra xử lý.

Đối với người sử dụng tài khoản mạng xã hội Z có tên “Mai Ngọc” và “Su su”, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N gửi Công văn đến Công ty Cổ phần V1 để xác minh số điện thoại đăng ký sử dụng tài khoản và danh sách địa chỉ IP truy cập sử dụng tài khoản nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối tượng dùng tài khoản Zalo “Mai Ngọc” và “Su Sư”, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKS ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Thị Tuyết A về tội “Môi giới mại dâm”, theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị Tuyết A từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu xung công quỹ nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, imei: 350727303369221, lắp sim số 0962.152.404;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphoe 13 màu trắng, imei: 353187657706469, lắp sim số 0853.969.316;
  • Tiền mặt: 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng)
  • Trả lại cho bị cáo: Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm số 29 ngày 30/10/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận N.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 02/8/2024, tại khách sạn H3 (địa chỉ số A phố T, phường M, quận N, Hà Nội), Đỗ Thị Tuyết A đã có hành vi môi giới cho Kiều Văn T1 bán dâm cho Nguyễn Văn X với giá 8.000.000 đồng/lượt (hưởng lợi 700.000 đồng) thì bị tổ công tác Công an quận N kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.
  3. [3] Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
  4. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự trị an toàn xã hội xâm phạm đến đạo đức, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến sức khoẻ của con người. Mại dâm là một tệ nạn xã hội gây ra nhiều tác hại cho mọi mặt của đời sống con người, là nguyên nhân gây ra các bệnh truyền nhiễm như HIV, AIDS. Bị cáo nhận thức và biết rõ việc môi giới mại dâm cho người khác mua bán dâm là vi phạm pháp luật. Song do hám lời bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình. Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng đối với bị cáo Tuyết A đây là lần đầu tiên bị đưa ra truy tố và xét xử, có nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này bị cáo Tuyết A luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ trừng trị giáo dục phòng ngừa chung, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng cũng cần phải có mức án thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. [6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
      • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, imei: 350727303369221, lắp sim số 0962.152.404;
      • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphoe 13 màu trắng, imei: 353187657706469, lắp sim số 0853.969.316;
      • 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng)
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng.
    • - Trả lại bị cáo: Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)
    • Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm số 29 ngày 30/10/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận N
  7. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Tuyết A phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Tuyết A 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay cho bị cáo nếu không bị giam giữ về một tội nào khác.

Giao bị cáo được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, Hà Nội giám sát giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
    • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, imei: 350727303369221, lắp sim số 0962.152.404;
    • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphoe 13 màu trắng, imei: 353187657706469, lắp sim số 0853.969.316;
    • Tiền mặt: 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng).
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng.
  • - Trả lại bị cáo: Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)
  • Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm số 29 ngày 30/10/2024 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận N

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THA dân sự q. Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Mai Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 318/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger