Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
  2. Bà Trần Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 315/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn T (tên gọi khác Tý E), sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1968 và bà Trần Thị H, sinh năm 1972; có 01 anh ruột, sinh năm 1994; bị cáo chưa có vợ, con;

    Tiền án:

    Bản án số 391/2019/HS-ST ngày 14/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2022, nộp án phí ngày 28/9/2020;

    Bản án số 276/2023/HS-ST ngày 05/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành án do đang điều trị bệnh;

    Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Quyết định số 162 ngày 12/7/2016, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 01 năm, ngày 27/4/2017 được xét miễn giảm thời gian chấp hành còn lại;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến ngày 25/8/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa;

  2. Hồ Lê Hoàng P, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Số G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; giới tính: Nam; con ông Hồ Thanh S, sinh năm 1970 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1969; có 01 em ruột sinh năm 1996; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không;

    Tiền án: Bản án số 211/2019/HS-ST ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/7/2022, nộp án phí ngày 03/01/2020;

    Nhân thân:

    • Quyết định số 88 ngày 10/12/2015, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 02/9/2016;
    • Quyết định số 35 ngày 01/3/2019, Ủy ban phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời gian 03 tháng, chấp hành xong ngày 01/6/2019;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023, có mặt tại phiên tòa;

  3. Phạm Nguyễn Hiền P1 (tên gọi khác Minh đói), sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Minh T2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); có 01 anh ruột sinh năm 1987; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • Bản án số 205/2013/HSST ngày 24/6/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2015, nộp án phí ngày 04/10/2013.
    • Bản án số 289/2018/HS-ST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/11/2020, nộp án phí ngày 26/12/2018;

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  4. Hồ Mạnh T4, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số C (số cũ 1) đường T, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Nhà không số, hẻm H, đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn P2 (đã chết) và bà Bùi Thị H2, sinh năm 1962; bị cáo có 03 chị ruột (lớn sinh năm 1987 và nhỏ sinh năm 1996); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến ngày 03/4/2023 được trả tự do và ngày 29/8/2023 bị bắt lại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Phạm Minh T2, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt;
  • Hồ Lê Hoàng A, sinh năm 1996; địa chỉ: Số G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt;
  • Nguyễn Thị O, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn L, xã T; huyện T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.

Người chứng kiến: Phạm Minh T2, sinh năm 1960; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T, Hồ Lê Hoàng P, Phạm Nguyễn Hiền P1, Hồ Minh T5 là bạn bè quen biết nhau ở ngoài xã hội, đều có sử dụng ma túy.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/4/2023, Hồ Lê Hoàng P điều khiển xe mô tô hiệu Honda, số loại Winner, biển số 61D1 - 884.24 đi từ nhà bạn gái ở phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để về nhà. Trên đường đi, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên P điều khiển xe đến khu vực Công viên D thuộc khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi mua ma túy, P dừng xe và đi tiểu tiện ở bụi cây lề đường (không nhớ rõ địa chỉ thuộc phường B, thành phố T), P nhìn thấy cạnh đó có một túi nylon miệng hở đựng biển số xe, P lấy xem thì thấy bên trong là một biển số xe máy số 17B6 – 283.75, một khóa mở và 02 con ốc. Do lo sợ đi mua ma túy bị phát hiện nên P đã lấy biển số 17B6 - 283.75 thay vào biển số xe 61D1 - 884.24 của P. Biển số xe 61D1 - 884.24 được P để lại vị trí của biển số xe nhặt được để sau khi mua ma túy được rồi quay lại lấy. P điều khiển xe mang biển số 17B6 - 283.75 đến công viên D, thành phố D gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá, người đàn ông này bán cho P một đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng. P cầm ma túy vừa mua bằng tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. P đến trước khu vực chợ D, thuộc phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì gặp Bùi Văn T đang điều khiển xe mô tô, hiệu Yamaha Exciter, biển số 75K1 – 260.73 đi một mình nên cả hai dừng xe nói chuyện. Tại đây, P hỏi T có 50.000 đồng không hùn mua ma túy sử dụng, T trả lời hiện không có tiền và nói về nhà xin tiền bà ngoại. Sau đó T giả vờ nói với P chạy về nhà xin tiền, nhưng thực tế T không đi xin tiền mà chạy xe ra khu vực đường S để lấy một nắp chai nhựa có gắn một ống hút nhựa và một nỏ thủy tinh T đã giấu trước đây mang theo người rồi quay lại chỗ P đứng chờ và nói chưa xin được tiền. Lúc này, P mở tay trái ra cho T thấy đoạn ống hút chứa ma túy đá và nói đã mua với giá 150.000 đồng, T nói với P là sau khi sử dụng ma túy xong về nhà lấy tiền trả cho P 50.000 đồng, thì P đồng ý. P hỏi T có chỗ sử dụng ma túy không thì T nói để gọi điện hỏi bạn có ở nhà không. T sử dụng điện thoại hiệu Nokia màu đen, sim số 0967837108 gọi đến số [...] của Phạm Nguyễn Hiền P1 hỏi có nhà không để đến chơi (không nói đến sử dụng ma túy), P1 trả lời là có ở nhà. T nói P đi theo T đến nhà số A N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, khi đến nơi thì P biết đây là nhà của P1. T dẫn P vào phòng ngủ của P1, trong phòng có P1 và Hồ Mạnh T4 đang chơi game điện thoại. Lúc này, P bỏ đoạn ống hút chứa ma túy đá xuống nền gạch trong phòng, T đưa nắp nhựa có gắn ống hút và nỏ thủy tinh cho T4, T4 lấy cái nắp nhựa có gắn ống hút, nỏ thủy tinh của T và vỏ chai nước suối có sẵn trong phòng làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tiếp đó, T4 mở đoạn ống hút chứa ma túy lấy một ít cho vào nỏ thủy tinh, phần còn lại T4 dùng bật lửa hàn kín lại rồi để ở trên chiếc dép. T4 dùng bật lửa đốt (nấu) nóng bầu nỏ thủy tinh chứa ma túy nhằm tạo hơi ma túy để T4, P1, T và P sử dụng bằng cách hút trực tiếp vào miệng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc P, T, P1, T4 đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an thành phố D kiểm tra hành chính bắt quả tang thu giữ những đồ vật gồm: 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) để trên chiếc dép màu xanh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 ống hút bằng nhựa, một vỏ chai nước suối bằng nhựa, 01 đĩa sành, 01 thẻ nhựa, 01 quẹt gas và 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa. Công an khám xét phòng ngủ của P1 phát hiện bên trong ngăn thứ hai từ dưới lên của tủ quần áo bằng nhựa đặt bên tay trái ở góc phòng hướng cửa chính nhìn vào có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất bột màu hồng (ký hiệu M2). P1 khai nhận: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất bột màu hồng là thuốc lắc do P1 mua vào ngày 30/3/2023 của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cầu vượt S thuộc phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương với giá 500.000 đồng. Sau khi mua xong mang về nhà nghiền nhỏ để sử dụng dần nhưng chưa sử dụng thì bị bắt; 01 quẹt gas, 01 vỏ chai nước suối, 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa, 01 đĩa sành, 01 thẻ nhựa là những dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá là của P1. Công an thành phố D lập biên bản, thu giữ tang vật và niêm phong số ma túy và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường D lập hồ sơ xử lý.

Căn cứ Kết luận giám định số 183/KL-KTHS(MT) ngày 10/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (M1) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng M1 = 0,5974 gam; chất bột màu hồng (M2) gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng M2 = 0,6873 gam.

- Kết quả kiểm tra ma túy đối với: P1, P, T, T4 đều dương tính với ma túy đá (Methamphetamine).

- Vật chứng thu giữ:

  • 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng;
  • 01 túi nylon miệng kéo dính chứa thuốc lắc màu hồng;
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 ống hút bằng nhựa, một vỏ chai nước suối bằng nhựa);
  • 01 đĩa sành,
  • 01 thẻ nhựa;
  • 01 bật lửa gas;
  • 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda, số loại Winner, biển số 17B6 – 283.75, số khung RLHKC2606GY012572, số máy KC26E1022057;
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 75K1 – 260.73, số khung RLCUG0601FY048822, số máy G3D4E053826;
  • 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen, sim số 0867837108 (thu của T).

Bản Cáo trạng số 88/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T và bị cáo Hồ Lê Hoàng P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Hiền P1 và bị cáo Hồ Minh T5 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Đối với xe mô tô hiệu Yamahaa Exciter, biển số 75K1 – 260.73, số khung RLCUG0610FY048822, số máy G3D4E053826 là vật chứng của vụ án Cướp giật tài sản do bị can T thực hiện ngày 20/3/2023, nên đã bàn giao xe mô tô biển số 75K1 – 260.73 theo vụ án trên.

Đối với xe mô tô hai bánh hiệu Honda, số loại Winner (biển số giả 17B6 – 283.75, biển số thật 61D1 – 884.24), số khung RLLHKC2606GY012572, số máy KC26E1022057. Qua xác minh xác định chủ sở hữu là ông Hồ Lê Hoàng A, sinh năm 1996; HKTT: G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là em ruột của bị cáo P. Bị cáo P hỏi mượn chiếc xe trên để đi công việc thì được ông A đồng ý, việc P sử dụng xe vào mục đích phạm tội thì ông A không biết, do vậy Cơ quan điều tra đã trả xe cho ông A;

Đối với người đàn ông bán ma túy cho P tại Công viên D, người phụ nữ bán ma túy cho P1 tại khu công nghiệp S, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mức hình phạt từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời tổng hợp hình phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” của Bản án số 276/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo nhưng chưa chấp hành; đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Lê Hoàng P mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Hiền P1 mức hình phạt từ 01 năm đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Hồ Mạnh T4 mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 0,5114 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,4424 gam ma túy loại MDMA hoàn lại sau giám định; 1 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 ống hút bằng nhựa, một vỏ chai nước suối bằng nhựa), 01 đĩa sành, 01 thẻ nhựa; 01 quẹt gas, 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa; 01 biển số xe 17B6 – 283.75; sim số 0867837108 là vật chứng của vụ án.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/4/2023, tại nhà của Phạm Nguyễn Hiền P1 số 159/45 N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Công an kiểm tra hành chính phát hiện Phạm Nguyễn Hiền P1 cùng Hồ Mạnh T4, Bùi Văn T và Hồ Lê Hoàng P đang sử dụng ma túy loại Methamphetamin. Ngoài ra, công an còn phát hiện trên chiếc dép bên cạnh các bị cáo có một đoạn ống hút hàn kín hai đầu, các bị cáo khai trước đó T và P mua 150.000₫ được 0,5974 gam ma túy loại Methamphetamine, các bị cáo đã lấy một ít sử dụng, đoạn ống hút còn lại hàn kín để sử dụng sau. Đồng thời, khám xét phòng của P1 phát hiện ngăn thứ hai từ dưới lên của tủ quần áo bằng nhựa đặt bên tay trái ở góc phòng hướng cửa chính nhìn vào có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa 0,6873 gam ma túy loại MDMA.

Hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy và tìm địa điểm sử dụng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo T và bị cáo P có tiền án chưa được xóa án tích, nay lại cùng bị cáo P1 và T4 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, là tình tiết định khung quy định tại điểm b, h Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo P1 và T4 đồng phạm với bị cáo T và P với tình tiết định khung tổ chức cho hai người trở lên quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo T, P, T4 thừa nhận biết việc T4 cất giữ đoạn ống hút chứa ma túy để sử dụng lần sau, do đó hành vi của các bị cáo T, P, T4 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo P1 khai không biết việc bị cáo T4 cất giữ đoạn ống hút chứa ma túy, tuy nhiên bị cáo P1 cất giữ 01 túi nilon chứa 0,6873 gam ma túy trong tủ quần áo để sử dụng dần, do đó hành vi của bị cáo P1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo Bùi Văn T, Hồ Lê Hoàng P, Phạm Nguyễn Hiền P1 và Hồ Minh T5 thực hiện là rất nghiêm trọng đã xâm phạm đến công tác quản lý độc quyền của Nhà nước về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cũng cần xét đến vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo T còn phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm và bị cáo P bị áp dụng tình tiết tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xử lý vật chứng:

  • [5.1] Đối với 0,5114 gam (M1) ma túy loại Methamphetamine và 0,4424 gam (M2) ma túy loại MDMA hoàn lại sau giám định; 1 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 ống hút bằng nhựa, một vỏ chai nước suối bằng nhựa), 01 đĩa sành, 01 thẻ nhựa; 01 quẹt gas, 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa; 01 biển số xe 17B6 – 283.75; sim số 0867837108 là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy;
  • [5.2] Đối với 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
  • [5.3] Đối với xe mô tô hiệu Yamahaa Exciter, biển số 75K1 – 260.73, số khung RLCUG0610FY048822, số máy G3D4E053826 là vật chứng của vụ án Cướp giật tài sản do bị can T thực hiện ngày 20/3/2023, nên cơ quan điều tra đã bàn giao xe mô tô biển số 75K1 – 260.73 theo vụ án trên là phù hợp pháp luật.
  • [5.4] Đối với xe mô tô hai bánh hiệu Honda, số loại Winner (biển số giả 17B6 – 283.75, biển số thật 61D1 – 884.24), số khung RLLHKC2606GY012572, số máy KC26E1022057. Qua xác minh chủ sở hữu là ông Hồ Lê Hoàng A, sinh năm 1996; HKTT: G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (em ruột của bị cáo P). Ngày 31/3/2023, bị cáo P hỏi mượn chiếc xe trên để đi công việc, việc P sử dụng xe vào mục đích phạm tội thì ông A không biết, do vậy Cơ quan điều tra đã trả xe cho ông A là phù hợp quy định của pháp luật;

[6] Đối với bị cáo Bùi Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 276/2023/HSST ngày 05/9/2023. Bị cáo chưa chấp hành án do đang điều trị bệnh, do đó cần tổng hợp hình phạt của Bản án số 276/2023/HSST đối với bị cáo.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn T.
  • Điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Lê Hoàng P.
  • Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Nguyễn Hiền P1 và Hồ Minh T5.
  • Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Hồ Lê Hoàng P, Phạm Nguyễn Hiền P1 và Hồ Minh T5 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội và 07 năm tù của bản án số 276/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt về tội Cướp giật tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/4/2023 đến ngày 25/8/2023.
  3. Xử phạt bị cáo Hồ Lê Hoàng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2023.
  4. Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Hiền P1 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2023.
  5. Xử phạt bị cáo Hồ Mạnh T4 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023, được khẩu từ thời gian tạm giữ từ ngày 02/4/2023 đến ngày 03/4/2023.

2. Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ghi số vụ 183/PC09 (M1) chứa ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,5114 gam; 01 bì thư ghi số vụ 183/PC09 (M2) chứa ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,4424 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 ống hút bằng nhựa, một vỏ chai nước suối bằng nhựa; 01 đĩa sành, 01 thẻ nhựa; 01 quẹt gas, 01 nắp chai nhựa gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa; 01 biển số xe 17B6 – 283.75; sim số 0867837108.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại hiệu N màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Bùi Văn T, Hồ Lê Hoàng P, Phạm Nguyễn Hiền P1 và Hồ Minh T5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP Dĩ An;
  • - Công an TP Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP Dĩ An;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 318/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hai tội Tổ chức và tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger