Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2023/HS-ST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Tưởng Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Văn Tầu

Bà Lê Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 301/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2023/QĐXXST-HS ngày 30/10/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: VVT, sinh năm 1988, tại Lai Châu; quê quán: Sìn Hồ, Lai châu; hộ khẩu thường trú: bản Tân Lập, xã Si Pa Phìn; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông VVS, con bà LTN. Vợ: LTT, sinh năm 1990, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bản án số 21/2021/HSST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Bồ, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2021.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Ngọc Lan – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 09/7/2023, T đi bộ từ chỗ làm tại khu vực gần siêu thị Big C, thuộc phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ra khu vực nhà chờ xe buýt đường Trần Phú, phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tìm mua ma tuý Heroine về sử dụng. Đến nơi, T gặp và mua của một người nam giới không quen biết, mặc áo “Grap” màu xanh, điều khiển xe máy, BKS 30X1-547.57 một gói ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cầm gói ma tuý ở lòng bàn tay trái rồi nhờ người bán ma tuý chở đến cổng Bệnh viện Đa khoa Hà Đông thì T xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng, còn người bán ma tuý đi đâu T không biết. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực trước số nhà 25, phố Bế Văn Đàn, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an phường Yết Kiêu phối hợp với Công an phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói giấy bạc, màu trắng, kích thước (01x01) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma tuý;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động vỏ nhựa màu đen, có in chữ “ITEL” máy đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0981.908.838;

Tại Bản kết luận giám định số 4724/KL-KTHS ngày 16/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,126 gam”.

Tại Cáo trạng số 300/CT-VKS-HĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố VVT về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo VVT khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo VVT từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 09/7/2023.
  • -Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • -Về tang vật của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của bị cáo VVT, cán bộ công an Nguyễn Bá Cường, Giám định viên Nguyễn Văn Hùng bên trong chứa ma túy đã qua giám định.
  • - 01 điện thoại di động vỏ màu đen, có in chữ ITEL đã qua sử dụng, lắp sim số 0981.908.838 bị cáo không dùng vào việc phạm tội. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự trả lại cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là người dân tộc Thái, hiểu biết pháp luật hạn chế, bị cáo ở vùng kinh tế có điều kiện đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa 9/12, là người dân tộc nên thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo có 2 con nhỏ đang đi học, công ăn việc làm không ổn định, bị cáo tàng trữ lượng ma túy thấp. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử bị cáo mức án thấp nhất. Đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.

Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 9 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, tại khu vực trước số nhà 25, phố Bế Văn Đàn, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, VVT đang có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói ma túy loại Heroin khối lượng 0,126gam để sử dụng. Khi T đang tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Yết Kiêu phối hợp với Công an phường Quang Trung quận Hà Đông, thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm tới độc quyền quản lý biệt dược của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn mà còn tiếp tay cho các đối tượng nghiện ma túy, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội và quy định của Nhà nước là nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ các chất ma túy, nhưng bị cáo coi thường pháp luật, cố ý phạm tội. Nhân thân bị cáo đã bị xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc Thái, ở vùng kinh tế có điều kiện đặc biệt khó khăn. Do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • -.Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín tại các mép dán ngoài có chữ ký của đối tượng VVT, cán bộ Công an Nguyễn Bá Cường, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, bên trong chứa ma túy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động vỏ màu đen, có in chữ ITEL đã qua sử dụng, lắp sim số 0981.908.838 thu giữ của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại bị cáo.

[7] Về nguồn gốc ma túy thu giữ của bị cáo: Bị cáo khai mua của người nam giới không quen biết, mặc áo grap màu xanh, điều khiển xe máy BKS 30X1-547.57, kết quả không tìm thấy dữ liệu liên quan đến biển kiểm soát trên, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ đối tượng bán ma túy cho T, khi nào đủ căn cứ xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Bị cáo VVT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 45; 46; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;

    Xử phạt: VVT 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 09/7/2023

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • -Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng VVT cán bộ Công an Nguyễn Bá Cường, Giám định viên Nguyễn Văn Hùng bên trong chứa ma túy đã qua giám định.
    • -Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động vỏ màu đen, có in chữ ITEL, đã qua sử dụng, lắp sim số 0981.908.838.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông

  4. Về án phí: Bị cáo VVT phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tưởng Thị Huyền

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Hà Đông :
  • - VKSND quận Hà Đông ;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - UBND phường (xã)nơi bị cáo cư trú;
  • - L-u HS,VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 318/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VVT có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin khối lượng 0,126gam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger