Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tùng

2. Bà Lê Thị Xuân Lang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 389/2024/TLST-HS, ngày 23/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3262/2024/QĐXXST-HS ngày 19/6/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Lưu Quốc H

Sinh ngày: 11/5/1995 tại tỉnh S; Nơi ĐK HKTT: 10/503, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, tỉnh T; Chỗ ở: 1 P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 9/12 Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà Lưu Thị C; Tiền án, tiền sự: không.

Tạm giam từ ngày 26/11/2020, đến ngày 23/8/2021 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 27/4/2022 bị bắt lại; Tạm giam từ ngày 27/4/2022 (Có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H: Bà Lưu Thị Quỳnh T, là Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo:

  • - Ông Lê Viên Duy T1, Bí thư Đoàn phường A, thuộc Quận đoàn quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • - Bà Lưu Thị C, sinh năm 1965, mẹ ruột của bị cáo (là Người giám hộ cho bị cáo) (vắng mặt).
  • HKTT: số N đường T, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng
  • - Ông Nguyễn Lưu Quốc C1, sinh năm 1999, là em ruột của bị cáo (có mặt)

Địa chỉ: số A đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị hại:

  1. Ông Lý Văn M, sinh năm 1976 (vắng mặt).
  2. Bà Đào Thị Lệ T2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  3. HKTT: số B tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

  4. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974 (có mặt).
  5. HKTT: số A đường Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Võ Thị Thu T4, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  2. HKTT: số S đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Bà Đặng Thị Lan H2, sinh năm 1974 (vắng mặt)
  4. HKTT: số B đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

  5. Bà Phan Thị Bích H3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  6. HKTT: ấp P, xã V, thành phố K, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lưu Quốc H là đối tượng không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài, H thường đi xung quanh địa bàn Quận A, quận G hoặc quận T xem nhà nào không có người trông coi thì đột nhập để chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Ngày 24/11/2020, Nguyễn Lưu Quốc H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Mio biển số 53S1-0422 mang theo ba lô màu đen có in logo “Samsonite”, bên trong có 01 kềm thủy lực, 01 kềm bấm, 01 cây xà beng kim loại và 01 đôi găng tay đến địa bàn Quận A tìm nhà không người trông coi để trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 13 giờ ngày 24/11/2020, H phát hiện nhà không số, tổ I, khu phố I, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Lý Văn M làm chủ, khóa cửa bên ngoài, không người trông coi nên H dừng xe lại trước nhà, lấy kềm thủy lực cắt khóa cửa đột nhập vào nhà. H đi lên gác lục soát tủ quần áo lấy 02 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 chiếc lắc bằng kim loại màu vàng và 01 mặt dây chuyền đính đá màu trắng cất giấu vào túi quần trước bên phải. H xuống dưới nhà đẩy xe mô tô biển số 53S1-0422 của H đi đến cất giấu tại khu đất trống gần đó, rồi quay lại nhà của anh M dẫn xe mô tô biển số 59G2-826.02 (do anh Lý Văn M đứng tên chủ sở hữu) ra đường hẻm thuộc tổ I, khu phố 1, phường T, Quận A, thuê thợ sửa khóa xe mở khóa xe mô tô. H điều khiển xe mô tô biển số 59G2-826.02 đến tiệm V", số F P, Phường A, quận T, do bà Võ Thị Thu T4 làm chủ, bán 02 sợi dây chuyền, chiếc lắc và mặt dây chuyền đính đá màu trắng, được tổng số là 13.516.000 đồng. Sau đó, H đến phòng giao dịch Ngân hàng A1

trên đường C, quận T chuyển số tiền 12.000.000 đồng vào số tài khoản số 14271347 do H đứng tên tài khoản, số tiền 1.516.000 đồng còn lại H tiêu xài hết. Sau đó, H mang xe mô tô biển số 59G2-826.02 cùng ba lô đựng dụng cụ cắt khóa về phòng trọ của H tại địa chỉ số A đường P, Phường A, quận T cất giấu. Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, H quay lại nơi cất giấu xe mô tô biển số 53S1-0422 để lấy nhưng không thấy xe trên.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/11/2020, bà Đào Thị Lệ T2 là vợ của ông M, đi làm về phát hiện bị mất trộm tài sản, đã đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc. Đồng thời, chị T2 phát hiện xe mô tô biển số 53S1-0422 (do H để lại) nên đã giao nộp cho Công an phường T, Quận A.

Ngày 25/11/2020, H mua một biển số xe giả số 52U3-876.32 thay biển số thật của xe mô tô 59G2-826.02, rồi điều khiển xe mô tô mang biển số giả 52U3-876.32 đi dán decal trên đường T (không nhớ địa điểm) dán lại màu sơn nhằm thay đổi đặc điểm xe và tránh bị phát hiện. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô gắn biển số giả 52U3-876.32 mang theo ba lô đựng dụng cụ đến địa bàn quận T với ý định tìm nhà vắng chủ để trộm cắp tài sản, thì bị Công an quận T tuần tra phát hiện. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết theo thẩm quyền.

Theo các Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 368 ngày 09/12/2020, số 385 ngày 06/01/2021 và số 164 ngày 04/02/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: Xe mô tô biển số thật là 59G2-826.02, trị giá 47.950.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu “khoen lật”, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu “dây mì”, 01 mặt dây chuyền đính nhiều hạt đá màu trắng và 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, kiểu “bản lật”; 13 viên đá màu trắng gắn trên mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có tổng trị giá 15.679.576 đồng

Như vậy, tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của ông Lý Văn M và bà Đào Thị Lệ T2 là 63.629.756 đồng.

Kết quả xác minh, biển số xe 53S1-0422 là của xe mô tô hiệu Kawasaki Gea, số máy GEA12578, số khung GA12578, do bà Giang Thị S, địa chỉ số A T, Phường D, quận B đứng tên đăng ký xe, qua xác minh hiện nay bà S không ở nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận A đã đăng báo tìm nhưng chưa có kết quả.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đỏ, số máy 4P83-007966, số khung RLCM4P830-7Y007966 có biển số thật là 86N1-0341 do bà Phạm Thị Kim Á, trú tại thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận làm chủ. Tháng 01/2020, bà Á giao chiếc xe biển số 86N1-0341 cho con trai là Phạm Thái Â, sinh năm 1999 đi học tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố H. Đến ngày 15/7/2020 chiếc xe bị mất trộm tại số A L, Phường D, quận G, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển chiếc xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G điều tra theo thẩm quyền. Nguyễn Lưu Quốc H khai nhận mua chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio biển số 53S1-0422 với giá 3.500.000 đồng của một người đàn ông

không rõ lai lịch vào khoảng tháng 8/2020 để sử dụng, H không biết chiếc xe này do người khác phạm tội mà có.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lý Văn M và bà Đào Thị Lệ T2 đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô biển số 59G2-826.02 cùng giấy đăng ký xe, 02 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng và 01 mặt dây chuyền đính đá màu trắng nên không yêu cầu bồi thường. Nguyễn Lưu Quốc H đã bồi thường cho bà Võ Thị Thu T4 số tiền 13.516.000 đồng (tiền mua bán vàng), bà T4 đã có đơn rút yêu cầu bồi thường.

Ngày 26/11/2020, Nguyễn Lưu Quốc H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, chuyển tạm giam, quá trình điều tra bị can H được Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong khi chờ vụ án đưa ra xét xử, H tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 31/3/2022, Nguyễn Lưu Quốc H chuẩn bị sẵn kềm cộng lực và 01 cây xà beng bỏ trong ba lô, rồi điều khiển xe mô tô hiệu BOSS (kiểu dáng bên ngoài giống xe Dream) biển số 52M9-8107, lưu thông trên địa bàn quận G tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến nhà số D Đường số B, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị T3 làm chủ, H thấy cửa nhà đã khóa và không có người ở nhà nên sử dụng kềm cộng lực cắt ổ khóa cửa rồi đột nhập vào bên trong nhà. H đi lên gác lục soát mở tủ đồ màu hồng lấy được 07 miếng vàng SJC, 03 nhẫn trơn 9999, 01 vòng đeo tay vàng 18k khối lượng 07 chỉ và số tiền 24.000.000 đồng. Sau khi trộm cắp số vàng trên, H mang đến bán tại tiệm V1 tại số D đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thị Bích H3 (nhân viên tiệm vàng) là người trực tiếp giao dịch và đồng ý mua số vàng trên của H với giá 521.740.000 đồng, thanh toán bằng chuyển khoản, số tiền này H đã mua chứng khoán và tiêu xài hết. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thị T3 phát hiện bị mất tài sản, nên đã trình báo Công an. Qua xác minh, truy xét, Công an quận G đã mời đối tượng Nguyễn Lưu Quốc H làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Nguyễn Lưu Quốc H đã thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Thị T3 và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G tiến hành khám xét nơi ở của H thu giữ nhiều công cụ, phương tiện H sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Lưu Quốc H và chuyển tạm giam từ ngày 27/4/2022, sau đó chuyển vụ án lên cấp Thành phố xử lý theo thẩm quyền.

Bà Phan Thị Bích H3 khai nhận: Ngày 31/3/2022, khi chị đang làm việc tại tiệm V1 thì Nguyễn Lưu Quốc H đến bán một số vàng 9999 và nữ trang với tổng số tiền 521.740.000 đồng, sau khi mua, bà H3 thanh toán tiền bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng của H tài khoản số 0071000946754 (Ngân hàng V2), lời khai trên của bà H3 phù hợp với kết quả xác minh sao kê tài khoản Ngân hàng và lời khai nhận tội của Nguyễn Lưu Quốc H. Sau khi mua vàng, bà

H3 đã nhập chung vào số vàng của tiệm V1 và đã bán hết số vàng trên cho khách hàng vãng lai. Phan Thị Bích H3 không biết số vàng H bán cho mình là tài sản trộm cắp mà có.

Kết quả xác minh, sao kê tài khoản Ngân hàng thể hiện: Ngày 31/3/2022, bà Phan Thị Bích H3 sử dụng số tài khoản của mình số [...] (Ngân hàng V3) hai lần chuyển tiền vào số tài khoản số 0071000946754 (Ngân hàng V2) của Nguyễn Lưu Quốc H với số tiền 521.740.000 đồng. Sau đó, H thực hiện nhiều giao dịch chuyển tiền đến nhiều số tài khoản. Ngày 01/4/2022 H chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản số 0071000946754 (Ngân hàng V2) đến số tài khoản khác của H số 19034849507012 (Ngân hàng T5). Số dư hiện trong tài khoản số 0071000946754 (Ngân hàng V2) là 3.195.632 đồng. Số dư hiện trong tài khoản số 9034849507012 (Ngân hàng T5) là 1.315.274 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận G kết luận: 7 miếng vàng SJC 9999 (tổng trọng lượng 7 lượng vàng); 03 nhẫn vàng trơn 9999 (tổng trọng lượng 3 chỉ vàng); 01 vòng đeo tay vàng 18K (tổng trọng lượng 7 chỉ vàng) tại thời điểm định giá ngày 31/3/2022 có tổng giá trị 522.676.662 đồng.

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 789/BBGNQTGĐ ngày 11/10/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Lưu Quốc H kết luận: Căn cứ Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD-10), căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 23/8/2019 của Bộ Y về quy trình giám định pháp y tâm thần.

  1. Về y học:
  2. Trước, trong, sau ngày 24/11/2020 cho đến hiện tại, đối tượng bị: Rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm (F41.2 – ICD10).

  3. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
  4. Trước, trong, sau ngày 24/11/2020 cho đến hiện tại, đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 478/CT-VKS-P1 ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng nêu và trình bày do cần tiền tiêu xài nên mới thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, xét bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, quá trình phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51

Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H từ 12 năm đến 14 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, các vật chứng khác xử lý theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H, tuy nhiên mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo vì bị cáo bị rối loạn tâm thần và hạn chế khả năng nhận thức trong suốt quá trình thực hiện hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, cha mất, mẹ già yếu bệnh tật đi lại khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo có ông Lê Viên Duy T1, là Bí thư Đoàn phường 15, thuộc Quận đoàn quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi.

Ông Nguyễn Lưu Quốc C1 là em ruột của bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, làm ăn chân chính

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài cá nhân, nên Nguyễn Lưu Quốc H thường tìm kiếm nhà nào không có người trông coi thì tìm cách đột nhập lấy tài sản. Vào khoảng 13 giờ ngày 24/11/2020, tại nhà không số, tổ I, khu phố A, phường T, Quận A, Nguyễn Lưu Quốc H đã bẻ khóa cửa nhà và đột nhập, lén lút chiếm đoạt 1 chiếc xe gắn máy biển số 59G2-826.02 trị giá 47.950.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu “khoen lật”, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu “dây mì”, 01 mặt dây chuyền đính nhiều hạt đá màu

trắng và 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, kiểu “bản lật”; 13 viên đá màu trắng gắn trên mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có trị giá 15.679.576 đồng. Giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt của vợ chồng ông Lý Văn M và bà Đào Thị Lệ T2 là 63.629.576 đồng.

Ngày 31/3/2022 tại nhà số D Đường số B, Phường H, quận G của bà Nguyễn Thị T3, Nguyễn Lưu Quốc H đã cắt ổ khóa và đột nhập vào nhà, lén lút chiếm đoạt 7 miếng vàng SJC 9999 (tổng trọng lượng 7 lượng vàng); 03 nhẫn vàng trơn 9999 (tổng trọng lượng 3 chỉ vàng); 01 vòng đeo tay vàng 18K (tổng trọng lượng 7 chỉ vàng) tại thời điểm định giá ngày 31/3/2022 có tổng giá trị 522.676.662 đồng và 24.000.000 đồng tiền mặt.

Như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của vợ chồng anh Lý Văn M, chị Đào Thị Lệ T2 và chị Nguyễn Thị T3 là 610.306.238 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng phạt, nhưng đã bất chấp hậu quả, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H thực hiện 2 vụ trộm cắp mà trị giá tài sản chiếm đoạt của mỗi lần trên 2.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 789/BBGNQTGĐ ngày 11/10/2021 và số 1085/KLGĐ ngày 03/4/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thì trước, trong và cho đến hiện tại, bị cáo bị rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lý Văn M và bà Đào Thị Lệ T2 đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô biển số 59G2-826.02 cùng giấy đăng ký xe, 02 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng và 01 mặt dây chuyền đính đá màu trắng nên không yêu cầu bồi thường. Bị can H đã bồi thường cho bà Võ Thị Thu T4 số tiền 13.516.000 đồng là tiền mua bán vàng, bà T4 đã có đơn rút yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 546.676.662 đồng bị cáo đã chiếm đoạt, yêu cầu này là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Lập luận trên là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và 1 phần lời bào chữa của Luật sư.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - Xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đỏ, số khung 7Y007966, không có số máy, gắn biển số giả 53S1-0422 (xe phương tiện H sử dụng đi trộm cắp tài sản), kết luận giám định: số khung nguyên thủy RLCM4P830-7Y007966, số máy nguyên thủy 4P83-007966. Kết quả xác minh: Xe có biển số thật là 86N1-0341, do bà Phạm Thị Kim D (sinh năm 1970; Thường trú: thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận) đứng tên chủ xe. Tháng 01/2020, bà D giao xe mô tô biển số 86N1-0341 cho con trai ruột tên Phạm Thái A (sinh năm 1999) sử dụng làm phương tiện đi học tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/7/2020, Â bị mất trộm xe tại nhà trọ địa chỉ 1 L, phường D, quận G. Nguyễn Lưu Quốc H khai nhận, mua xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đỏ (gắn biển số giả 53S1-0422) của một người đàn ông (chưa xác định) qua trang mạng xã hội Facebook vào khoảng tháng 8/2020, H không biết tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã thông báo, đồng thời ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đỏ này đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G thụ lý điều tra theo thẩm quyền, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với biển số xe 53S1-0422, kết quả xác minh là của xe mô tô hiệu Kawasaki Gea, số máy GEA12578, số khung GA12578, do bà Giang Thị S (sinh năm 1973; Thường trú: SỐ m đường T, phường D, quận B) đứng tên đăng ký xe. Tuy nhiên qua xác minh hiện nay bà S đã bỏ đi khỏi địa phương nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 chìa khóa xe dạng remote điều khiển; 01 ba lô màu đen có in logo “Samsonite”, 01 kềm thủy lực trên thân ghi chữ “Asaki AK0620", 01 kềm bấm trên thân ghi “USA STANDARD”, 01 cây xà beng kim loại dài khoảng 50 cm, một đầu dẹp, 01 đôi găng tay vải màu xám sọc đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen hiệu “Nón Sơn”, 01 ổ khóa Việt Tiệp bị cắt, 01 (một) xà beng dài khoảng 37,5 cm, 01 balo màu xanh bên ngoài có chữ “TOP”, 01 chứa kềm thủy lực màu vàng, 06 đầu đoản phá khóa, 01 đầu tua vít bằng kim loại, 01 điện thoại Redmi Note 5 đen đeo ốp màu cam, 01 nón bảo hiểm hiệu Goviet màu đỏ trắng; 01 biển số xe giả mang số 52U3-876.32; 01 thẻ ngân hàng A1, số thẻ 4221094005280183; 01 (một) thẻ

ATM Vietcombank; 01 (một) thẻ ATM Techcombank. Đây là các vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 điện thoại di động hiệu Apple iPhone màu trắng, số Imei 359408084943028; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh nước biển; 01 điện thoại Redmi Note 5 đen đeo ốp màu cam; Số tiền 17.987.917 đồng trong tài khoản số 14271347 của bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H tại Ngân hàng ACB, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản tại Chi nhánh T6, Quận A của Ngân hàng ACB. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu BOSS (kiểu dáng bên ngoài giống xe Dream) được gắn biển số 52M9-8107. Kết quả xác minh xe mô tô trên do ông Nguyễn Công D (Địa chỉ: số T đường L, Phường A, Quận A, TP.) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc ông D trình bày, xe mô tô trên do ông mua và đứng tên chủ sở hữu trên giấy đăng ký xe. Sau này, vì không có nhu cầu sử dụng nên ông D đã giao chiếc xe trên cho con trai là Nguyễn Công D1 sử dụng và D1 đã mang chiếc xe đi cầm cố. Qua làm việc, Nguyễn Công D1 khai nhận đã cầm cố chiếc xe trên để lấy tiền tiêu xài nhưng D1 không nhớ rõ chính xác địa chỉ cửa hàng D1 đã cầm cố ở đâu. Bị cáo đã sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2022, được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 26/11/2020, đến ngày 23/8/2021.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H bồi thường cho bà Nguyễn Thị T3 số tiền 546.676.662 (năm trăm bốn mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi hai) đồng

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc không thi hành đầy đủ các khoản đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chậm thi hành.

* Tịch thu tiêu hủy:

01 chìa khóa xe dạng remote điều khiển; 01 ba lô màu đen có in logo “Samsonite”; 01 kềm thủy lực trên thân ghi chữ “Asaki AK0620”; 01 kềm bấm trên thân ghi “USA STANDARD”; 01 cây xà beng kim loại dài khoảng 50 cm, một đầu dẹp; 01 đôi găng tay vải màu xám sọc đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen hiệu “Nón Sơn”; 01 ổ khóa Việt Tiệp bị cắt; 01 xà beng dài khoảng 37,5 cm; 01 balo màu xanh bên ngoài có chữ “TOP”; 01 chứa kềm thủy lực màu vàng; 06 đầu đoản phá khóa; 01 đầu tua vít bằng kim loại; 01 nón bảo hiểm hiệu Goviet màu đỏ trắng; 01 biển số xe giả mang số 52U3-876.32; 01 thẻ ngân hàng ACB, số thẻ 4221094005280183; 01 thẻ ATM Vietcombank; 01 thẻ ATM techcombank; 01 biển số xe 53S1-0422

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án:

  • - Số tiền 17.987.917 đồng trong tài khoản số 14271347
  • - 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone màu trắng, số Imei 359408084943028 (không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, khay sim không có Imei, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh nước biển (thực nhận 01 điện thoại di động, kiểu dáng Iphone màu xanh nước biển, không Imei khay sim, không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - 01 điện thoại Redmi Note 5 đen đeo ốp màu cam (thực nhận 01 điện thoại di động Redmi, không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: không xác định; Số loại: không xác định; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 52M9-8107; SK: (số mờ, ghi theo số cà): VMEPCG00221037818; SM: (số mờ, ghi theo số cà): SD037521 (xe bể nhựa, không bửng, thiếu cốp, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/416 ngày 01/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/L-PTTK(ĐTTH) ngày 03/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 25.867.066 (hai mươi lăm triệu, tám trăm sáu mươi bảy nghìn, không trăm sáu mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa chỉ định cho bị cáo và Bị hại Nguyễn Thị T3 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06-Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (3)
  • - NLQ; (3)
  • - Trại giam; (1)
  • - Đương sự; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ. (30) (11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Uyên Thy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 318/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Quốc H 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger