|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 318/2025/HSPT |
|
|
Ngày 02 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
***
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán:
Ông Trần Nam Phương
Ông Nguyễn Đình Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Viết T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 188/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai); theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2025/QĐXXPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2025/HSPT-QĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025.
Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Viết T (tên gọi khác B), sinh năm 2003; tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp B, xã L, tỉnh Đồng Nai). Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Viết T1 và bà Lê Thị L. Gia đình có 03 chị em. Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Trong vụ án có bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nội dung chính: Nguyễn Hải T2 và Đinh Ngọc H có nhà ở gần nhau ở ấp E xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình sinh sống, giữa anh T2 và bị cáo H phát sinh mâu thuẫn cãi nhau qua lại.
Vào khoảng 16 giờ ngày 09/11/2021, sau khi T2 và H cãi nhau qua lại xong, T2 cầm 01 đoạn cây sắt dài khoảng 02m đi từ nhà T2 qua nhà H để đánh H. Lúc này, tại nhà của H có Hoàng Trung H1 và Nguyễn Viết T (bạn của H) đến chơi. Khi T2 tới sân nhà H thì gặp Hoàng Trung H1 nên T2 sử dụng đoạn cây sắt mang theo đánh H1 nhưng không trúng thì H1 nhặt 01 đoạn cây sắt và đánh nhau với T2 nhưng không đánh trúng nhau. Thấy T2 đánh H1, nên H ra phía sau nhà lấy 02 cây rựa đưa cho Nguyễn Viết T (bạn của H) 01 cây dao rựa còn H sử dụng 01 cây chạy đến đánh T2, trong đó H chém T2 01 cái trúng vào hông bên trái của T2. Cùng lúc này, Đinh Ngọc N (ông ngoại H) sử dụng cuốc dài khoảng 2m đánh 01 cái trúng vào chân trái của T2 làm T2 té ngã thì T sử dụng rựa và quay phần sống lưng đánh 01 cái vào chân của T2, H1 sử dụng đoạn cây sắt đánh vào người của T2 02 cái thì được anh N1 (cha dượng của H) can ngăn nên H, H1, N và T dừng lại. Sau khi bị thương tích Nguyễn Hải T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ.
- Vật chứng vụ án: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã vứt bỏ thất lạc không thu hồi được.
- Giám định và kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0861 ngày 10/8/2022 Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy 1/3 giữa xương chày trái phép đã kết hợp xương trục thẳng. Tỷ lệ: 13%.
- Sẹo cẳng tay phải kích thước 04 x 1,5cm. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo vết thương trên nền vết mổ cẳng chân trái kích thước 23 x 0,3cm: Tỷ lệ: 02%.
a). Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể áp dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Hải T2 sinh năm 1989 áp dụng theo thông tư là: 16%.
b). Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật sắc.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 389/KL-VPYTW ngày 06/7/2022 của V đối với Nguyễn Hải T2.
- - Về y học:
- + Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0-ICD.10).
- + Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Quyết định của cấp sơ thẩm: Bản án số 188/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Đồng Nai) đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Viết T 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Kháng nghị: Ngày 30/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 335/QĐ-VKS-P7 đề nghị chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo sang tù giam đối với bị cáo Nguyễn Viết T.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đối chiếu với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời áp dụng các quy định tại khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo thử thách là 04 năm, trong khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất côn đồ, đã vi phạm khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội phạm vào hai tình tiết đó là “Phạm tội có tính chất côn đồ” và “dùng hung khí nguy hiểm”. Căn cứ vào các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự của Hội đồng Thẩm phán án nhân dân tối cao hành vi của bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do đó cần chuyển hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sang hình phạt thì có thời hạn buộc bị cáo chấp hành thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản án sơ thẩm đã nêu cụ thể: Trong lúc giữa anh T2 và H1 đang đánh nhau, khi T2 bị H sử dụng 01 cây dao rựa chém T2 01 cái trúng vào hông bên trái của T2. Cùng lúc này, Đinh Ngọc N (ông ngoại H) sử dụng cuốc dài khoảng 2m đánh 01 cái trúng vào chân trái của T2 làm T2 té ngã thì T sử dụng rựa do H đưa và quay phần sống lưng đánh 01 cái vào chân của T2 thì H1 sử dụng đoạn cây sắt đánh vào người của T2 02 cái thì được anh N1 (cha dượng của H) can ngăn nên H, H1, N và T dừng lại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Viết T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo Nguyễn Viết T sử dụng phần sống của dao rựa đánh anh T2 đồng thời bị cáo cùng với các bị cáo khác đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đại diện hợp pháp bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo H1, bị cáo T, bị cáo N và bị cáo H. Bị cáo có nhân thân tốt, vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm, có nơi cư trú rõ ràng; để cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp với khoản 1 Điều 3 nghị quyết 02/2018, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bởi lẽ, hành vi của bị cáo thực hiện mang tính côn đồ, khi thấy H đánh anh T2 té ngã bị cáo không can ngăn mà bị cáo cầm dao rựa lao vào chém bị hại 1 cái vào chân trong tư thế bị hại hoàn toàn bị động, không còn khả năng chống cự lại chỉ khi được mọi người can ngăn bị cáo mới dừng lại. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là có cơ sở.
[3] Về nội dung kháng nghị:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm. Căn cứ vào các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 3 nghị quyết 02/2018, Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chuyển hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của bị cáo sang hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải chấp hành.
[4] Về án phí: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; Sửa Bản án sơ thẩm số 188/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai).
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm d khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Viết T 02 (hai) năm tù. Thời gian tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
- Bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
- Vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Hiệu lực của Bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Nam Phương Nguyễn Đình T3 |
Đinh Thị Kiều L1 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 318/2025/HSPT ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 318/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong lúc giữa anh T và H đang đánh nhau, khi T bị H1 sử dụng 01 cây dao rựa chém T 01 cái trúng vào hông bên trái của T. Cùng lúc này, Đinh Ngọc N (ông ngoại H1) sử dụng cuốc dài khoảng 2m đánh 01 cái trúng vào chân trái của T làm T té ngã thì T1 sử dụng rựa do H1 đưa và quay phần sống lưng đánh 01 cái vào chân của T thì H sử dụng đoạn cây sắt đánh vào người của T 02 cái thì được anh Nh (cha dượng của H1) can ngăn nên H1, H, N và T1 dừng lại
