Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2025/HS-PT

Ngày: 10-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phú Thọ.
Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 276/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị T và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thế Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp.

Tại điểm cầu trung tâm (Hội trường số 4 - Trụ sở 1 - Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp) gồm có: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa.

Tại điểm cầu thành phần (Hội trường số 2 - Trụ sở chính Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp) gồm có:

1- Bị cáo có kháng cáo:

1.1. Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976, tại tỉnh Tiền Giang; Tên thường gọi: (Không có); Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố M, phường C, tỉnh Đồng Tháp); Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1942; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 21/11/2024 đến nay.

1.2. Họ và tên: Nguyễn Thế Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991, tại tỉnh Tiền Giang; Tên thường gọi: (Không có); Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố M, phường C, tỉnh Đồng Tháp; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1954; Vợ Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1994; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 21/11/2024 đến nay.

(Các bị cáo đều có mặt tại điểm cầu thành phần).

Trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại hộ của Nguyễn Thị T tại ở ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đang có đối tượng mua bán số đề (đánh bạc) nên vào lúc 18 giờ ngày 31/5/2024, lực lượng Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang phối hợp cùng Công an xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Thị T đang có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết ở các đài miền N và miền B để tổ chức đánh bạc cho nhiều người nên Công an tiến hành lập biên bản, mời các đối tượng có liên quan làm việc và thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen, gắn sim số 0399.126.439 của Nguyễn Thị T (Qua kiểm tra điện thoại có tin nhắn SMS thể hiện nội dung T nhận ghi số lô đề, có ảnh chụp màn hình điện thoại được in ra, có xác nhận của T và kèm theo hồ sơ vụ án).
  • 01 quyển tập, 02 tờ giấy dò vé số (có xác nhận của Nguyễn Thị T, chuyển trong hồ sơ vụ án).
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, gắn sim số 0333715201 của Nguyễn Thanh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển xử lý hành chính.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu bạc, gắn sim số 0939.154.719 của Thái Thị C. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển xử lý hành chính.
  • 01 tờ giấy có nội dung “0399126439” có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị T2.
  • Tiền Việt Nam 18.300.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, gắn 01 sim 3G (không số); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen; 01 máy tính nhãn hiệu Casio và 01 sổ dò vé số của Nguyễn Thị T.
  • Tiền Việt Nam 11.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, gắn sim số 0824.935.576 của Nguyễn Thế Đ.

Theo lời khai của Nguyễn Thị T: Do muốn có tiền tiêu xài, Nguyễn Thị T đã lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N và kết quả xổ số kiến thiết của đài miền B để ghi số lô đề cho những người có nhu cầu chơi đề. Sau đó, T chuyển lại cho Dương Thị Ánh H1 và Nguyễn Thị Bé E để hưởng phần trăm hoa hồng.

Để thực hiện việc tổ chức đánh bạc, T đặt ra các quy luật chơi và tỉ lệ thắng thua với những người tham gia đánh bạc như sau:

* Đối với đài miền N.

- “Bao lô 02 số”: Là mua 02 số cuối của các giải từ giải tám đến giải đặc biệt. Đối chiếu với kết quả xổ số, nếu số mà người chơi đề mua trùng với 02 số của các giải đã mua thì trúng đề. Người tham gia đánh bạc khi tham gia ghi số lô đề ở đài miền N là 18 lô nhưng T tính tiền chỉ là 13 lô hoặc 14 lô, đối với những người Thúy tính 13 lô thì T chỉ hưởng lợi khi người đó trúng thưởng, tỷ lệ trúng 1x70. Nếu có nhiều số trúng thì nhân kết quả lên theo số lượng số trúng.

- “Bao lô 03 số” (Xỉu chủ): Là mua số có 03 chữ số của các giải từ giải bảy đến giải đặc biệt. Đối chiếu với kết quả xổ số, nếu số mà người chơi đề mua trùng với số của các giải đã mua thì trúng đề. Người tham gia đánh bạc khi tham gia ghi số lô đề ở đài miền N là 17 lô nhưng T tính tiền chỉ là 13 lô hoặc 14 lô, đối với những người Thúy tính 13 lô thì T chỉ hưởng lợi khi người đó trúng thưởng, tỷ lệ trúng là 1x600. Nếu có nhiều số trúng thì nhân kết quả lên theo số lượng số trúng.

* Đối với đài miền B

- “Bao lô 02 số”: Là mua 02 số cuối của các giải từ giải bảy đến giải đặc biệt. Đối chiếu với kết quả xổ số, nếu số mà người chơi đề mua trùng với 02 số của các giải đã mua thì trúng đề. Người tham gia đánh bạc khi tham gia ghi số lô đề ở đài miền B là 27 lô nhưng T tính tiền chỉ là 21 lô, người chơi đề phải trả số tiền mua số đề = số tiền mua mỗi con số x 21, tỷ lệ trúng 1x70. Nếu có nhiều số trúng thì nhân kết quả lên theo số lượng số trúng.

- “Bao lô 03 số” (Xỉu chủ): Là mua số có 03 chữ số của các giải từ giải sáu đến giải đặc biệt. Đối chiếu với kết quả xổ số, nếu số mà người chơi đề mua trùng với số của các giải đã mua thì trúng đề. Người chơi đề phải trả số tiền mua số đề = số tiền mua mỗi con số x 21, tỷ lệ trúng là 1x600. Nếu có nhiều số trúng thì nhân kết quả lên theo số lượng số trúng.

- “Số đá” : Là mua một cặp số có hai chữ số là 02 chữ số cuối của các giải từ giải bảy đến giải đặc biệt. Nếu kết quả xổ số kiến thiết có đồng thời cả 02 số mà người chơi đề mua thì trúng đề. Người chơi đề phải trả số tiền = số tiền mua mỗi cặp số x 40, tỷ lệ trúng là 1x600. Nếu có bao nhiêu cặp số thì nhân kết quả lên theo số lượng cặp số trúng.

Từ việc thỏa thuận hình thức đánh bạc như trên, trong ngày 31/5/2024 Nguyễn Thị T đã tổ chức ghi đề của những người tham gia đánh bạc sau đây:

1. Nguyễn Thế Đ (được lưu trong điện thoại của T tên là “Diem2”).

* Đài miền N

Vào lúc 12 giờ 18 phút 12 giây ngày 31/5/2024, Đ sử dụng số điện thoại 0824.935.xxx của Điềm gửi tin nhắn vào số điện thoại 0399.126.xxx của T để mua số lô đề (được T ghi cụ thể vào quyển số có xác nhận của T và Đ), cụ thể như sau:

Điềm mua bao lô giải 02 con số của các số 69, 96 của 03 đài miền N (gồm đài Vĩnh Long, đài Trà Vinh và đài Bình Dương), với số tiền 200.000 đồng/01 lô, thành tiền là 200.000 đồng x 03 đài x 02 con số x 14 lô = 16.800.000 đồng; mua bao lô giải 03 con số của các số 568, 769 của 03 đài miền N (gồm đài Vĩnh Long, đài T và đài Bình Dương) với số tiền 100.000 đồng/01 lô, thành tiền là 100.000 đồng x 03 đài x 02 con số x 14 lô = 8.400.000 đồng. Tổng cộng số tiền Đ mua đề ở các đài miền N là: 25.200.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số, Đ không trúng.

* Đài miền B.

Vào lúc 16 giờ 43 phút ngày 31/5/2024, Đ sử dụng số điện thoại 0824.935.xxx gửi tin nhắn SMS đến số điện thoại 0399.126.xxx của T với nội dung "94.95 200nl 594.495 100nl"

Nội dung tin nhắn trên có nghĩa là Đ mua bao lô giải 02 con số, của các số 94, 95 của đài miền B (đài Hải Phòng) số tiền 200.000 đồng/01 lô, thành tiền là 200.000 đồng x 02 con số x 21 lô = 8.400.000 đồng; mua bao lô giải 03 con số của các số 594, 495 của đài miền B (đài Hải Phòng) số tiền 100.000 đồng/01 lô, thành tiền là 100.000 đồng x 02 con số x 21 lô = 4.200.000 đồng. Tổng cộng số tiền Đ mua đề ở đài miền bắc là 12.600.000 đồng. Tại thời điểm lực lượng kiểm tra chưa có kết quả xổ số ở đài miền B.

Sau khi nhận số đề từ Đ thì T khai chuyển qua cho Dương Thị Ánh H1 với thỏa thuận tiền hoa hồng như sau:

- Đối với đài miền N: giải bao lô 02 con: Thúy nhận của những người tham gia chơi đánh đề là 14 lô, khi T chuyển qua cho H1 thì Hồng tính là 13 lô, T sẽ hưởng hoa hồng là 01 lô. Giải bao lô 03 con số (xỉu chủ): Thúy nhận của những người tham gia chơi đánh đề là 14 lô, khi T chuyển qua cho H1 thì Hồng tính là 12.5 lô, T sẽ hưởng hoa hồng 1.5 lô.

- Đối với đài miền B: giải bao lô 02 con: Thúy nhận của những người tham gia 21 lô, khi T chuyển qua cho H1 thì Hồng tính là 20 lô, T sẽ hưởng hoa hồng 01 lô. Giải bao lô 03 con số (xỉu chủ): Thúy nhận của những người tham gia chơi đánh đề là 21 lô, khi T chuyển qua cho H1 thì Hồng tính là 18 lô, T sẽ hưởng hoa hồng 03 lô.

Cụ thể, T chuyển số lô đề do Đ mua qua cho Dương Thị Ánh H1, để hưởng hoa hồng như sau:

- Tổng số tiền Đ mua đề của T của các đài miền N là 25.200.000 đồng (gồm giải bao lô hai con là 200.000 đồng x 03 đài x 02 con số x 14 lô + giải bao lô 03 con là 100.000 đồng x 03 đài x 02 con số x 14 lô). T chuyển qua cho H1 là 23.100.000 đồng (gồm: giải bao lô hai con là 200.000 đồng x 02 con số x 03 đài x 13 lô + giải bao lô ba con là 100.000 đồng x 02 con số x 03 đài x 12,5 lô). T hưởng hoa hồng là 2.100.000 đồng.

- Tổng số tiền Đ mua đề của T của các đài miền B là 12.600.000 đồng (gồm giải bao lô hai con là 200.000 đồng x 02 con số x 21 lô + giải bao lô 03 con là 100.000 đồng x 02 con số x 21 lô). T khai chuyển qua cho H1 như sau:

+ Đối với nội dung tin nhắn “Mb 94 95 200 nl 594 495 100 nl” đây là tin nhắn Điềm nhắn tin mua số đề của T. Tuy nhiên, T chỉ chuyển lại cho H1 lần lượt là “Mb 94 95 190 nl 594 495 95 nl” (giải bao lô hai con 190.000 đồng x 02 con số x 20 lô + giải bao lô 03 con là 95.000 đồng x 02 con số x 18 lô). T hưởng hoa hồng số tiền là 950.000 đồng (gồm 190.000 đồng x 02 con số x 01 lô chênh lệch + 95.000 đồng x 02 con số x 03 lô chênh lệch). T khai còn giữ lại 10.000 đồng/lô của lô hai con và 5.000 đồng/lô của lô ba con để đánh đề với Đ với số tiền là 630.000 đồng (gồm 10.000 đồng x 02 con số x 21 lô =420.000 đồng + 5.000 đồng x 02 con số x 21 lô =210.000 đồng)

+ Ngoài ra, tại tin nhắn này còn có nội dung “86 17 5nl 86 đa 17 1n” đây là tin nhắn T trực tiếp tham đánh bạc với H1. Nội dung tin nhắn trên có nghĩa là T mua bao lô 02 con số của các số 86, 17 của đài miền B (đài Hải Phòng), số tiền 5.000 đồng/01 lô, thành tiền là 5.000 đồng x 02 con số x 20 lô= 200.000 đồng; mua “số đá” số 86, 17 với số tiền 1.000 đồng, thành tiền 02 con số x 20.000 đồng = 40.000 đồng. Tổng cộng: 240.000 đồng. Tại thời điểm lực lượng kiểm tra chưa có kết quả xổ số ở đài miền B.

Như vậy:

- Tổng số tiền Nguyễn Thị T tổ chức đánh bạc cho Đ vào ngày 31/5/2024 của đài số số kiến thiết miền N và đài miền B là: 37.800.000 đồng (gồm đài miền N là 25.200.000 đồng + đài miền B là 12.600.000 đồng). T3 hoa hồng là 3.050.000 đồng (gồm đài miền N là 2.100.000 đồng + đài miền B là 950.000 đồng).

- Tổng số tiền Nguyễn Thế Đ tham gia đánh bạc là 37.800.000 đồng. (gồm đài miền N là 25.200.000 đồng + đài miền B là 12.600.000 đồng).

2. Nguyễn Thanh H (V - được lưu trong điện thoại của T tên là “Vân Tiêm”).

Vào ngày 31/5/2024, H gặp trực tiếp T để mua số lô đề. Sau đó, T sử dụng số điện thoại 0399.126.xxx nhắn tin SMS vào số điện thoại 0333.715.xxx của H với nội dung: “3đ 70 10nl ok” để xác nhận con số mà H đã mua. Nội dung tin nhắn có nghĩa là H mua bao lô số 70 của 03 đài M (đài Vĩnh Long, đài T và đài Bình Dương) với số tiền 10.000 đồng/1 lô, thành tiền là 10.000 đồng x 03 đài x 14 lô= 420.000 đồng (T tính tiền cho H ở giải này là 14 lô). Sau khi có kết quả xổ số, H trúng 01 lô ở đài Trà Vinh, thành tiền 10.000 đồng x 70.000 đồng = 700.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T tổ chức đánh bạc cho H ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) trong ngày 31/5/2024 là 1.120.000 đồng. H chưa trả tiền cho T.

3. Nguyễn Thị T2 (được lưu trong điện thoại của T tên là “Ba 6”).

Vào lúc 14 giờ 49 phút ngày 31/5/2024, bà T2 gọi sử dụng số điện thoại 039.298.556 gọi vào số điện thoại 0399.126.xxx của T để mua bao lô số 64 của 03 đài miền N (đài V, đài T, đài B), với số tiền 5.000 đồng/1 lô, thành tiền là 5.000 đồng x 03 đài x 13 lô = 195.000 đồng (T tính cho bà T2 ở giải này là 13). Sau khi có kết quả xổ số, bà T2 trúng 01 lô của đài Vĩnh L và 01 lô của đài Bình Dương, thành tiền 5.000 đồng x 02 lô x 70.000 đồng = 700.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Thị T2 ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) trong ngày 31/5/2024 là 895.000 đồng. Bà T2 chưa trả tiền cho T.

4. T4 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) gặp trực tiếp T để mua bao lô giải 02 con số, số 64 của đài Vĩnh Long, với số tiền 50.000 đồng/1 lô, thành tiền 50.000 đồng x 13 lô = 650.000 đồng (T tính cho T4 ở giải này là 13 lô). Sau khi có kết quả xổ số, T4 trúng 01 lô ở đài V, thành tiền 50.000 đồng x 70.000 đồng = 3.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T tổ chức đánh bạc cho T4 ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) trong ngày 31/5/2024 là 4.150.000 đồng. Tháp chưa trả tiền cho T.

T khai sau khi nhận ghi số đề từ H, bà T2 và T4 thì T chuyển toàn bộ các số lô đề đến Nguyễn Thị Bé E thông qua số điện thoại 0333.544.xxx được T lưu trong điện thoại là “B” để hưởng hoa hồng cụ thể như sau:

- Đối với Nguyễn Thanh H: T nhận ghi cho H tổng số tiền 420.000 đồng. T giao cho B1 Em là 10.000 đồng x 03 đài x 13 lô = 390.000 đồng, hưởng hoa hồng 30.000 đồng. Kết quả H trúng 01 lô được 700.000 đồng thì Bé Em sẽ trả cho T 720.000 đồng (T hưởng tiếp 20.000 đồng). Như vậy, tổng số tiền hoa hồng T hưởng là 50.000 đồng.

- Đối với Nguyễn Thị T2: T nhận ghi cho T2 195.000 đồng, chuyển cho Bé Em là 195.000 đồng (không hưởng hoa hồng). Kết quả bà T2 trúng 01 lô được 700.000 đồng, Bé E sẽ trả cho T 720.000 đồng. Thúy hưởng hoa hồng 20.000 đồng.

- Đối với T4: T nhận ghi cho T4 tổng số tiền 650.000 đồng, chuyển cho Bé Em là 650.000 đồng (không hưởng hoa hồng). Kết quả Tháp trúng 01 lô được 3.500.000 đồng, Bé E sẽ trả cho T 3.600.000 đồng. T hưởng hoa hồng là 100.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền T hưởng hoa hồng là 170.000 đồng (gồm 50.000 đồng + 20.000 đồng +100.000 đồng)

Quá trình điều tra còn xác định ngày 31/5/2024, Nguyễn Thị T trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Thị Bé E. Cụ thể: T mua bao lô số 31 của 03 đài M (đài V, đài T, đài B), với số tiền 5.000 đồng/1 lô, thành tiền là 5.000 đồng x 03 đài x 13 lô = 195.000 đồng. Kết quả T không trúng.

Như vậy:

- Trong ngày 31/5/2024, Nguyễn Thị T tổ chức đánh bạc cho 04 người (Điềm, H, T2 và T4) với tổng số tiền là 43.965.000 đồng, trong đó ở các đài miền N là 31.365.000 đồng, ở đài miền B là 12.600.000 đồng. T thu lợi bất chính số tiền 3.220.000 đồng (gồm 3.050.000 đồng + 170.000 đồng).

- Trong ngày 31/5/2024, Nguyễn Thị T trực tiếp đánh bạc ở đài miền B với Nguyễn Thế Đ và Dương Thị Ánh H1 là 870.000 đồng; đánh bạc ở các đài M với Nguyễn Thị Bé E là 195.000 đồng.

Trong quá trình điều tra mở rộng, Thái Thị C, sinh năm 1968, nơi cư trú: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang khai nhận trong ngày 31/5/2024, C có sử dụng điện thoại di động sim số 0939.154.719 gửi tin nhắn đánh đề với Nguyễn Thị Bé E cụ thể: Chi mua bao lô số 79 ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) số tiền 30.000 đồng/01 lô, thành tiền là 30.000 đồng x 03 đài x 13 lô = 1.170.000 đồng; mua bao lô số 71 ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) số tiền 10.000 đồng/ 01 lô, thành tiền là 10.000 đồng x 03 đài x 13 lô = 390.000 đồng; mua bao lô số 11 ở đài T số tiền 10.000 đồng/01 lô, thành tiền là 10.000 đồng x 13 lô = 130.000 đồng; mua đá xéo số 71 và 31 ở 03 đài miền N (đài V, đài T, đài B) số tiền 1.000 đồng, thành tiền 151.000 đồng. Tổng cộng số tiền mua đề là 1.841.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số Chi trúng 01 lô số 79, số tiền 30.000 đồng, thành tiền 30.000 đồng x 70.000 đồng = 2.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền C tham gia đánh bạc với Bé Em là 3.941.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 19/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thế Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thế Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc được phạt tiền.

Tại phiên toà phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự, Nguyễn Thế Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc được phạt tiền. Bị cáo T có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện đang gặp khó khăn, bị cáo là lao động chính duy nhất trực tiếp chăm sóc mẹ già và người anh ruột thường xuyên đau ốm, không còn khả năng lao động. Bị cáo Đ có cung cấp các tài liệu chứng minh gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo T và Đ.

Trong phần tranh luận, các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thế Đ không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được tại ngoại để có điều kiện chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 31/5/2024, tại ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Thị T đã có hành vi lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài xổ số miền N (gồm đài Vĩnh Long, đài B, đài T) và kết quả xổ số kiến thiết của đài xổ số miền B (đài H) để tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề cho 04 người chơi đánh bạc gồm Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị T2 và T4 với tổng số tiền là 43.965.000 đồng (trong đó, ở các đài miền N là 31.365.000 đồng, ở đài miền B là 12.600.000 đồng) để hưởng hoa hồng số tiền 3.220.000 đồng. Nguyễn Thế Đ tham gia đánh bạc ở các đài miền N (đài V, đài T, đài B) với số tiền là 25.200.000 đồng; đánh bạc ở đài miền B (đài Hải Phòng) với số tiền 12.600.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài xổ số miền N và kết quả xổ số kiến thiết của đài xổ số miền B để tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề cho 04 người chơi đánh bạc gồm Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị T2 và T4 với tổng số tiền là 43.965.000 đồng (trong đó, ở các đài miền N là 31.365.000 đồng, ở đài miền B là 12.600.000 đồng) để hưởng hoa hồng số tiền 3.220.000 đồng. Còn bị cáo Nguyễn Thế Đ tham gia đánh bạc ở các đài miền N với số tiền là 25.200.000 đồng; đánh bạc ở đài miền B với số tiền 12.600.000 đồng. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Thế Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Nguyễn Thế Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin xem xét áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, xin được hưởng án treo; bị cáo T có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính duy nhất trực tiếp chăm sóc mẹ già và người anh ruột thường xuyên đau ốm, không còn khả năng lao động. Bị cáo Đ2 có cung cấp Quyết định về việc trợ cấp một lần đối với người hoạt động kháng chiến của cha và ông nội để chứng minh gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Mặt khác, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo, cũng không phải là điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo T và Đ1.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo T và Đ1 là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
    Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền của các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thế Đ phạm tội “Đánh bạc”.
    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
    Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoàn 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    Các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thề Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - TAND khu vực 4 (4);
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - CQCSĐT CA tỉnh ĐT;
  • - CQTHAHS CA tỉnh ĐT;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, HSVA (5) (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2025/HS-PT ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự: tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 318/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÁNH BẠC VÀ TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger