Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2025/DS-PT

Ngày: 30/6/2025

“V/v tranh chấp HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai, bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 263/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hành S1; Ông Trần Gia T; Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, TP ..

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981; vắng mặt

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

NỘI DUNG VỤ KIỆN:

* Nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày: Ngày 09/3/2019, ông Nguyễn Văn C ký hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) với Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh S2 – Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) với các thỏa thuận sau: lãi suất trong hạn 2,4%/tháng; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; Căn cứ thu nhập của ông C, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 115.236.908 đồng, đã thanh toán 32.700.000 đồng. Do ông C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 16/12/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn trên dư nợ gốc là 111.831.881 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu ông C phải thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/02/2025 là 364.795.111 đồng, trong đó: nợ gốc 111.831.881 đồng, lãi quá hạn 252.963.230 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 12/02/2025 cho đến khi ông C thanh toán toàn bộ khoản nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập bị đơn ông Nguyễn Văn C tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 11/02/2025 là 334.958.848 đồng (Ba trăm ba mươi bốn triệu chín trăm năm mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: nợ gốc là 111.831.881 đồng, lãi quá hạn là 223.126.967 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/02/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo sự thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm; nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền ông Trần Gia T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng sửa án phần tiền lãi.

Phía bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo, nhận thấy: Ngày 09/3/2019 bị đơn ông C có ký kết giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với thỏa thuận số tiền cấp tín dụng như nguyên đơn trình bày và sau khi được cấp thẻ tín dụng ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 115.236.908 đồng nhưng trong quá trình sử dụng thẻ ông C chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.700.000 đồng (trong đó kỳ thanh toán cuối cùng ngày 15/11/2019 với số tiền 3.500.000 đồng); Đến kỳ thanh toán vào ngày 15/12/2019 thì ông C ngưng thanh toán cho đến nay; Vì vậy đã phát sinh quyền yêu cầu xử lý nợ của nguyên đơn và ngày 16/12/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn là có cơ sở. Tuy nhiên, việc ngân hàng yêu cầu trả lãi suất nợ quá hạn là 3,6%/tháng (2,4% x 150%) là chưa phù hợp vì theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên lãi suất thỏa thuận là 2,15%/tháng; Tại Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng có ghi nhận việc đơn vị phát hành thẻ có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ; và trường hợp xảy ra vi phạm thì Đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện áp dụng lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại .... Tuy nhiên, phía nguyên đơn không có tài liệu chứng minh về việc điều chỉnh lãi suất như nguyên đơn trình bày và yêu cầu. Do vậy, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông C trả số tiền nợ gốc là 111.831.881 đồng, lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng (từ ngày 16/12/2019 đến ngày 11/02/2025 - ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền 223.126.967 đồng và bị đơn ông C phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên nhận thấy yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận một phần. Đối với kháng cáo không có căn cứ nên không xem xét. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Đối với bị đơn vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc 111.831.881 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Phía bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt nên chưa ghi nhận ý kiến.

Xét số tiền vốn gốc thể hiện:trả tiền là 10.000.000 đồng, nên đây là quan hệ đòi lại tài sản mà tự ý nghỉ họcà Vào ngày 09/3/2019 ông Nguyễn Văn C có ký kết giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với thỏa thuận số tiền cấp tín dụng như nguyên đơn trình bày và sau khi được cấp thẻ tín dụng ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 115.236.908 đồng nhưng trong quá trình sử dụng thẻ ông C chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.700.000 đồng; Đến kỳ thanh toán vào ngày 15/12/2019 thì ông C ngưng thanh toán cho đến nay. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu xử lý nợ của nguyên đơn và ngày 16/12/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn là có cơ sở. Bản án sơ thẩm tuyên bị đơn trả cho nguyên đơn tiền vốn gốc là 111.831.881 đồng là có căn cứ.

Xét về lãi suất: ngân hàng yêu cầu trả lãi suất nợ quá hạn là 3,6%/tháng (2,4% x 150%) là chưa phù hợp vì theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên lãi suất thỏa thuận là 2,15%/tháng; Tại Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng có ghi nhận việc đơn vị phát hành thẻ có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ; và trường hợp xảy ra vi phạm thì Đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại. Nguyên đơn không chứng minh đã thông báo cho bị đơn về mức lãi suất tăng mà tự ý nâng mức lãi suất là chưa phù hợp, cao hơn quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông C trả số tiền nợ gốc là 111.831.881 đồng, lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng (từ ngày 16/12/2019 đến ngày 11/02/2025 - ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền 223.126.967 đồng và bị đơn ông C phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp quy định pháp luật. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở nên không chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí đối với phần nguyên đơn được chấp nhận; Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận theo quy định.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn chịu theo quy định.

[5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên án:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 11/02/2025 là 334.958.848đ (Ba trăm ba mươi bốn triệu chín trăm năm mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: nợ gốc là 111.831.881 đồng, lãi quá hạn là 223.126.967 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/02/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo sự thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Văn C phải chịu số tiền 16.747.942đ (Mười sáu triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu số tiền 1.491.813đ (Một triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm mười ba đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 7.714.154 đồng (Bảy triệu bảy trăm mười bốn nghìn một trăm năm mươi bốn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai thu tiền số 0033132 ngày 23/01/2024; Như vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền còn dư 6.222.341 đồng (Sáu triệu hai trăm hai mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi mốt đồng).

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002610 ngày 13/3/2025 thành tiền án phí. Ngân hàng đã nộp xong khoản này.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Thành viên Hội đồng xét xửThẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Tuyết LoanNguyễn Văn Hải
Phan Thị Tuyết Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 318/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 318/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger