TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 318/2025/DS-PT Ngày 12-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Ngô Thị Bích Diệp |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng |
| Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất)”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2025/QĐ-PT, ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Sơn L, sinh năm 1987; trú tại: Số I khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1986; trú tại: A đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 07/8/2023), có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1994; trú tại: Thôn A, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: số nhà D, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1962; trú tại: số H, đường số B, tổ B, khu T, khu C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2022); có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phòng C1, tỉnh Bình Dương; trụ sở: số D Đại Lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương; trụ sở: đường NE8, khu đô thị V, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Ninh Thị N1, sinh năm 1980; trú tại: số D đường số A, Tổ I, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Ninh Công K, sinh năm 1976; trú tại: số D đường I, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Cao Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Quán C3, Thửa 485, tờ bản đồ 181 (D4), khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Lê Thị V, sinh năm 1968; địa chỉ Quán C3, T, tờ bản đồ 181 (D4), khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; trú tại: Thôn A, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Huân C, sinh năm 1975; trú tại: số A T, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2022); có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2021, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Sơn L và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H thống nhất trình bày:
Ông Trần Sơn L có vay tiền của ông Nguyễn Hoàng N theo Hợp đồng vay tiền đề ngày 17/3/2020. Tổng số tiền vay theo hợp đồng nêu trên là 3.000.000.000 đồng, nhận trước số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay: Vay tiêu dùng, lãi suất vay 4%/tháng. Trên thực tế việc vay và giao nhận tiền được thực hiện vào ngày 17/02/2020. Thời hạn vay là 02 năm kể từ ngày 17/02/2020 đến ngày 17/02/2022.
Số tiền vay ông L đã nhận từ ông N tổng cộng là 270.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng vay, ông L có giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 169847, số vào số cấp GCN: CH00522/AP do ỦY BAN NHÂN DÂN huyện (nay là thành phố) T cấp cho ông Trần Sơn L ngày 30/7/2010 đối với phần đất có diện tích 260,3m² thuộc thửa đất số: 485, tờ bản đồ số: 181 (D4) tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thế chấp cho khoản vay.
Đến ngày 27/02/2020, ông Nguyễn Hoàng N yêu cầu ông L phải ký hợp đồng ủy quyền đối với quyền sử dụng đất mà ông L đã thế chấp cho ông N để đảm bảo cho khoản vay của ông L. Vì ở thế bị động nên ông L phải đồng ý theo yêu cầu của ông N, hai bên ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 539, quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 tại Phòng C1, tỉnh Bình Dương với nội dung ông N được toàn quyền quản lý đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Thực tế đây là hợp đồng giả cách, ông N yêu cầu ông L ký để đảm bảo cho số tiền vay mà ông L vay của ông N.
Tuy nhiên, đến nay ông L có nhu cầu muốn được nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho ông N. Ông L đề nghị ông N cho ông L trả lại tiền đã vay và ông N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính nhưng ông N không đồng ý.
Sau đó, ông L được biết ông Nguyễn Hoàng N đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông L cho bà Ninh Thị N1. Số tiền nhận được từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này ông N không cấn trừ vào số tiền ông L đã vay, cũng không nói cho ông L biết mà tự sử dụng số tiền này cho cá nhân ông N. Việc này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L. Do đó, ông L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 539, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 được ký kết giữa ông Trần Sơn L và ông Nguyễn Hoàng N tại Phòng C1, tỉnh Bình Dương là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng N phải trả lại cho ông Trần Sơn L bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 169847, số vào số cấp GCN: CH00522/AP do ỦY BAN NHÂN DÂN huyện (nay là thành phố) T cấp cho ông Trần Sơn L ngày 30/7/2010.
- Ông Trần Sơn L chịu trách nhiệm thanh toán số tiền đã vay 270.000.000 đồng và tiền lãi cho ông Nguyễn Hoàng N theo Hợp đồng vay tiền đề ngày 17/3/2020.
Ngày 11/7/2022, nguyên đơn ông Trần Sơn L có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 011754, quyển số 10/CC-SCC/HĐGD ngày 27/10/2020 tại Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương ký giữa bà Ninh Thị N1 và ông Nguyễn Hoàng Nam vô hiệu.
Đối với phần ký tên trong hợp đồng vay tiền ngày 17/3/2020, tại biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2022, nguyên đơn ông Trần Sơn L trình bày: Ông Lâm ghi nhầm họ tên của mình là Lâm Sơn L2 nhưng chữ ký và chữ viết là của ông L2.
Sau khi ký hợp đồng vay tiền, ông L2 đã nhiều lần vay tiền của ông N bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 1050001064814 tại Ngân hàng V1 và chuyển qua hình thức Momo theo số điện thoại đăng ký 0975.084.xxx của ông L2. Số tiền ông N chuyển khoản cho ông L2 bao gồm lãi và gốc cộng dồn (lãi chồng lãi). Mỗi lần chuyển tiền ông N đều báo cho ông L2 biết số tiền gốc lãi và chốt lại do ông N chốt lại số tiền. Hiện nay nguyên đơn xác định còn nợ bị đơn số tiền 488.000.000 đồng và đồng ý trả lại số tiền này và tiền lãi tính đến ngày xét xử cho ông N.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Hoàng N là bà Phạm Thị L1 trình bày:
Qua quen biết, vào đầu năm 2020 ông Trần Sơn L có thỏa thuận vay tiền của ông Nguyễn Hoàng N. Cụ thể, vào ngày 17/3/2020 ông N và ông L có lập Hợp đồng vay tiền. Theo đó, ông L vay của ông N số tiền là 3.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 4%/tháng trên tổng tiền số tiền vay. Mục đích: Vay tiêu dùng.
Tuy nhiên, ông L không lấy tiền một lần mà lấy nhiều lần, bằng hình thức nhận tiền mặt, chuyển khoản và qua ứng dụng ví Momo điện tử.
Trước thời điểm ký Hợp đồng vay tiền vào ngày 17/3/2020 ông L đã vay trước (tạm ứng) số tiền 250.000.000 đồng, hình thức: Nhận tiền mặt, nên trong Hợp đồng vay tiền có ghi "lấy tạm trước": 100.000.000 đồng + 150.000.000 đồng. Trong Hợp đồng các bên đã ghi nhận ông Lâm ứng trước.
Sau đó ít ngày, ông L lấy thêm của ông N 02 lần: Một lần 14.000.000 đồng và một lần 6.000.000 đồng là 20.000.000 đồng. Ông N ghi vào mặt trước của Hợp đồng vay tiền. Cũng theo Hợp đồng vay tiền thì để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ ông L có thế chấp cho ông N 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của diện tích đất 260,3m² (100m² đất ở + 160,3m² đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 485, tờ bản đồ số 181 (D) tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố T Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số CH 00522/AP do Ủy ban nhân dân thành phố T4 cấp ngày 30/7/2010 mang tên ông Trần Sơn L. Đất có nguồn gốc do ông L được tặng cho riêng. Tình trạng: Đất trống. Các bên thỏa thuận ngày 17 tây hàng tháng ông L có nghĩa vụ trả lãi cho ông N, ngày 20/02/2022 trả toàn bộ gốc vay.
Các bên còn thỏa thuận rằng: Nếu bên vay không đóng lãi và không có thỏa thuận nào với bên cho vay trong thời hạn 03 tháng thì bên cho vay có quyền thực hiện theo Hợp đồng ủy quyền để thu hồi nợ.
Ngày 27/02/2020 ông L đã ký ủy quyền toàn quyền sử dụng cho ông N toàn bộ thửa đất nêu trên bằng Hợp đồng ủy quyền tại Phòng C1 tỉnh Bình Dương, Hợp đồng được công chứng chứng nhận cùng ngày, số công chứng: 539, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD.
Đến ngày 05/3/2020: Ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 110.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện tử Momo.
Đến này 09/03/2020 ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 115.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện tử Momo.
Đến ngày 10/03/2020 ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 130.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện tử Momo.
Đến ngày 11/03/2020 ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 150.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện tử Momo.
Đến ngày 18/4/2020 ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 354.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện từ M.
Đến ngày 21/4/2020 ông L lấy thêm của ông N số tiền là 400.000.000 đồng, bằng tiền mặt, khi nhận tiền ông N viết vào đầu trang sau Hợp đồng vay tiền, ông L ký nhận.
Đến ngày 02/5/2020 ông L lấy thêm của ông N số tiền là 446.000.000 đồng bằng tiền mặt, khi nhận tiền ông N viết vào cạnh bên phải trang sau Hợp đồng vay tiền, ông L ký nhận.
Đến ngày 28/6 (29/6/2020) ông L yêu cầu ông N chuyển cho ông L thêm số tiền 535.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ví điện tử Momo.
Sau đó vào khoảng tháng 7 và tháng 8/2020 khi ông L bị bệnh, ông L có điện thoại cho ông N và ông N có chuyển thêm cho ông L, nhiều lần tiền:
Ngày 24/7/2020 chuyển 3.000.000 đồng, ngày 06/8/2020 chuyển 3.000.000 đồng, ngày 28/10/2020 chuyển 5.000.000 đồng, ngày 10/12/2020 chuyển 7.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền ông N cho ông L vay là 2.528.000.000 đồng.
Sau khi ký Hợp đồng vay tiền và nhận tiền của ông N nhiều lần nhưng ông L chưa trả cho ông N bất kỳ tiền gốc hoặc tiền lãi nào.
Do ông L không có khả năng trả nợ nên ông N có thông báo cho ông N biết rằng ông N sẽ thực hiện Hợp đồng ủy quyền là sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác để thu hồi nợ thì ông L đồng ý.
Vì vậy ngày 27/10/2020 ông N đã thực hiện công việc được ủy quyền là ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên của ông L cho bà Ninh Thị Nội T1 Văn phòng C2, hợp đồng được công chứng cùng ngày, số công chứng: 011754.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1, ông N có liên hệ với ông L nhiều lần nhưng ông L không nghe máy, đến địa chỉ nơi ở của ông L thì không có ông L ở nhà. Gần đây, sau khi biết ông Lâm kiện ông N, ông N có gọi điện thoại cho ông L rất nhiều lần trong đó có một lần ông L nghe máy và ông N hỏi “sao anh kiện tôi” thì ông L nói ông không có kiện ông N.
Ông N cho rằng chữ ký và chữ viết của ông L tại đơn khởi kiện và tại Hợp đồng ủy quyền đại diện pháp lý không giống chữ ký và chữ viết của ông L tại Hợp đồng vay tiền, Hợp đồng ủy quyền mà ông L đã ký với ông N. Bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.
Tại đơn yêu cầu độc lập, đơn bổ sung yêu cầu độc lập và quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ninh Thị N1 và người đại diện hợp pháp của bà N1 là ông Lê Huân C trình bày:
Vào tháng 10/2020, thông qua người giới thiệu, bà N1 gặp ông Nguyễn Hoàng N. Ông Nam giới T2 mình là người nhận chuyển nhượng 260,3m² đất của ông Trần Sơn L nhưng chưa sang tên mà chỉ làm hợp đồng ủy quyền. Ông N cho bà N1 xem giấy tờ: Ông Trần Sơn L (nguyên đơn) đứng tên chủ sử dụng 260,3m² đất thuộc thửa đất số 485, tờ bản đồ số 181 (D), ấp A, A, T, Bình Dương, theo Giấy chứng nhận số BA169817, số vào số cấp GCN: CH00522/AP do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Thuận An cấp ngày 30/7/2010; Hợp đồng ủy quyền số 539 do Phòng C1 tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 27/02/2020 (xin gọi tắt là Hợp đồng ủy quyền 539), bên A (ông Trần Sơn L) ủy quyền cho bên B (Nguyễn Hoàng N) với nội dung: Bên A đồng ý ủy quyền cho bên B đại diện cho bên A để thực hiện các công việc sau toàn quyền quản lý đất, chuyển nhượng...được quyền ký kết hợp đồng đặt cọc, nhận tiền cọc, quyết định giá chuyển nhượng, phương thức thanh toán và nhận tiền chuyển nhượng: Bên A chịu trách nhiệm về cam kết do bên B thực hiện trong phạm vi ủy quyền.
Khi đi xem đất, bà N1 thấy trên đất có căn chòi tạm để bán nước, ông N nói với bà N1 là đang cho người khác thuê. Ông N hứa sẽ giao đất cùng căn chòi tạm cho bà N1. Ngày 26/10/2020, do bà N1 có việc bận nên nhờ ông Ninh Công K (anh ruột) thay mặt mình ký Hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Hoàng N; giá chuyển nhượng là 6.300.000.000 đồng.
Ngày 27/10/2020, bà Ninh Thị N1 và ông Nguyễn Hoàng N ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 260,3m² đất nêu trên, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 011754 do Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương chứng nhận cùng ngày; ghi giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng và bên B đóng thuế thu nhập cá nhân, là theo yêu cầu của ông N, bà N1 không biết vì sao phải ghi như vậy. Khi thủ tục công chứng hoàn tất, bà N1 đã giao cho ông N đủ số tiền chuyển nhượng là 6.300.000.000 đồng. Ông N có ghi biên nhận mặt sau Hợp đồng đặt cọc. Đồng thời, ông N đã đưa bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao đất (kèm tài sản gắn liền với đất) cho bà N1. Sau đó, bà N1 nộp hồ sơ đăng bộ sang tên thì Văn phòng Đ thông báo nhà đất bị tranh chấp, ngưng giải quyết hồ sơ sang tên.
Như vậy, ông Nguyễn Hoàng N đã thực hiện xong công việc ủy quyền nên ông Trần Sơn L phải chịu trách nhiệm về cam kết do ông N thực hiện trong phạm vi ủy quyền (Điều 1 của Hợp đồng ủy quyền số 539). Việc ông L yêu cầu Tòa án tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền 539 là chối bỏ trách nhiệm của bên A (bên ủy quyền), gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N1. Do đó, bà N1 đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, theo đơn khởi kiện, ông L trình bày còn nợ ông Nguyễn Hoàng N khoản tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi. Ông L và ông N có ký kết Hợp đồng vay ngày 17/03/2020 và Hợp đồng ủy quyền số 539 như trên, để bảo đảm cho khoản vay. Tuy nhiên, bà N1 không biết việc vay mượn giữa ông L và ông N.
Do đó, ngày 10/5/2022, bà Ninh Thị N1 đã có đơn yêu cầu độc lập.
- Yêu cầu nguyên đơn, bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng: Bàn giao đất cùng tài sản gắn liền với đất cho bà Ninh Thị N1.
- Buộc những người đang sinh sống, ở trên đất (nếu có) đi ra khỏi đất và di dời tài sản cá nhân ra khỏi đất (thuộc thửa đất số 485, tờ bản đồ số 181 (D), khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương).
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ninh Thị N1 và ông Trần Sơn L (do ông Nguyễn Hoàng N đại diện), số công chứng 11754 do Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 27/10/2020; công nhận quyền sử dụng 260,3m² đất cùng tài sản trên đất (căn nhà tạm) thuộc thửa đất số 485, tờ bản đồ số 181 (D), ấp A, A, T, Bình Dương cho bà Ninh Thị N1 Nội.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00522/AP do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp ngày 30/7/2010 cho ông Trần Sơn L để cấp lại cho bà Ninh Thị N1.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T trình bày: Ông T không quen biết ông Nguyễn Hoàng N. Ông T có biết ông Trần Sơn L vì ông T là người thuê đất của ông L tại thửa đất số 485, tờ bản đồ số 181(D), đường T, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Vào tháng 10/2022 do có nhu cầu kinh doanh quán cà phê nên ông T có thuê đất của ông Trần Sơn L với giá thuê là 8.000.000 đồng/tháng. Giữa hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không ký hợp đồng thuê hay lập văn bản gì, cũng không thỏa thuận về thời hạn thuê. Sau khi thuê đất, ông T có dựng 7 chòi lá trên đất. Hiện nay ông T giao cho mẹ vợ ông T là bà Lê Thị V quản lý quán cà phê và là người trả tiền thuê đất hàng tháng cho ông L. Do ông T chỉ là người thuê đất nên ông T xác định không có liên quan gì đến tranh chấp giữa ông Trần Sơn L với ông Nguyễn Hoàng N và các bên liên quan nên ông T không có ý kiến gì. Trường hợp Tòa án xét xử đất thuê thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai thì ông T sẽ thỏa thuận lại về việc thuê đất với người đó nếu không tiếp tục thuê đất ông T sẽ thỏa thuận với ông L về việc di dời tài sản là 07 chòi lá để trả lại đất cho chủ quản lý sử dụng. Ông T không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V trình bày:
Bà V không quen biết ông Nguyễn Hoàng N. Bà V có biết ông Trần Sơn L vì ông T (con rể) là người thuê đất của ông L tại thửa đất số 485, tờ bản đồ số 181(D), đường T, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Vào tháng 10/2022 ông T thuê đất của ông L để kinh doanh quán cà phê với giá thuê là 8.000.000 đồng/tháng. Sau khi thuê đất, T có dựng 7 chòi lá trên đất và giao cho bà V quản lý kinh doanh quán cà phê. Hiện nay bà V là người quản lý quán cà phê và là người trả tiền thuê đất hàng tháng cho ông L. Do bà V chỉ là người quản lý quán cà phê trên đất thuê cho con rể bà nên bà xác định không có liên quan gì đến tranh chấp giữa ông Trần Sơn L với ông Nguyễn Hoàng N và các bên liên quan nên bà V không có ý kiến gì. Trường hợp Tòa án xét xử đất thuê thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai thì bà V và ông T sẽ thỏa thuận lại về việc thuê đất với người đó. Bà V không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C4 có văn bản trình bày ý kiến: Ngày 27 tháng 02 năm 2020, ông Nguyễn Hoàng N yêu cầu Công chứng viên Phòng công chứng chứng nhận Hợp đồng ủy quyền liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T (nay là khu phố A, phường A, thành phố T), tỉnh Bình Dương có diện tích 260,3m² thuộc thửa đất số 485; tờ bản đồ số 181(D4) căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 169847 (số cấp GCN: CH00522/AP) do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/7/2010.
Nội dung, phạm vi ủy quyền: Ông Trần Sơn L đồng ý ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng N đại diện cho ông L để thực hiện các công việc sau: Toàn quyền quản lý thửa đất; chuyển nhượng (kể cả sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng); nộp các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến việc ủy quyền và thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với toàn bộ quyền sử dụng đất của ông L nêu trên.
- Khi thực hiện việc chuyển nhượng, ông Nguyễn Hoàng N được quyền ký kết hợp đồng đặt cọc (kể cả sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc), nhận tiền cọc, quyết định giá chuyển nhượng, phương thức thanh toán và nhận tiền chuyển nhượng.
Trong quá trình thực hiện việc ủy quyền nêu trên, ông Nguyễn Hoàng N được quyền đại diện ông L đề nghị trích lục (trích đo) thửa đất theo quy định của pháp luật; xác nhận tình trạng bất động sản; đăng ký biến động các thông tin ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); lập, nộp, ký tên, nhận các giấy tờ, văn bản, hồ sơ và quyết định những vấn đề liên quan đến việc ủy quyền trên.
- Ông Nguyễn Hoàng N được phép ủy quyền lại cho bên thứ ba (kể cả sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng ủy quyền hoặc chấm dứt hợp đồng ủy quyền trước thời hạn) nhưng phạm vi ủy quyền không được vượt quá nội dung ủy quyền theo hợp đồng này.
Bên ủy quyền ông Trần Sơn L đã xuất trình các giấy tờ bao gồm: Chứng minh nhân dân, hộ khẩu, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Bên nhận ủy quyền ông Nguyễn Hoàng N cũng đã xuất trình các giấy tờ cần thiết bao gồm: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu. Tại thời điểm công chứng, các bên cam đoan đã khai đúng sự thật và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin ghi trong hợp đồng, việc giao kết Hợp đồng ủy quyền trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận theo quy định pháp luật, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Công chứng viên Phòng công chứng đã kiểm tra và nhận thấy các bên tham gia ký kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, mục đích, nội dung thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên đã đọc lại toàn bộ nội dung dự thảo hợp đồng, đã được công chứng viên giải thích rõ nội dung hợp đồng, đã hiểu và đồng ý tất cả các điều khoản ghi trong Hợp đồng và đã ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt của công chứng viên. Công chứng viên Phòng công chứng đã chứng nhận hợp đồng ủy quyền theo yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
Phòng công chứng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án và gửi cho quý Tòa 01 bản sao hợp đồng ủy quyền số công chứng 539 quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 kèm theo các tài liệu chứng cứ liên quan Vvà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2: Sau khi nhận thông báo thụ lý của Tòa án không có ý kiến trình bày về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ninh Thị N1 và có đơn xin vắng mặt.
Quá trình tố tụng, tại bản tự khai ngày 22/3/2024 bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà H1 và ông Nguyễn Hoàng N là vợ chồng nhưng do bà ở nhà nuôi con nhỏ nên không biết gì về việc làm ăn của ông N. Bà H1 không làm ăn gì với nguyên đơn ông Trần Sơn L nên không biết gì về việc mua bán, vay mượn giữa ông L và ông N. Trước đây có vài lần do công việc ở xa, ông N có nhờ bà H1 chuyển tiền cho ông L qua ví momo và chuyển khoản qua ngân hàng.
Do lâu ngày nên bà H1 không nhớ rõ số tiền và số lần chuyển tiền vì sau khi đi làm về ông N đã trả lại cho bà H1.
Bà H1 xác định bà có chuyển tiền giúp cho ông N và không biết gì về việc mua bán, vay mượn giữa ông N và ông L và bà cũng không nhận bất kỳ khoản tiền hay tài sản nào của ông L, ông N.
Toàn bộ số tiền chuyển từ tài khoản và ví điện tử mang tên bà H1 là của ông Nguyễn Hoàng N không liên quan gì đến bà H1 và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
- Tuyên bố hợp đồng ủy quyền ngày 27/02/2020 giữa bên ủy quyền là ông Trần Sơn L và bên nhận ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng Nam vô hiệu.
- Buộc ông Trần Sơn L trả cho ông Nguyễn Hoàng N số tiền nợ là 817.442.867 đồng (T3 trăm mười bảy triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Ninh Thị N1 về việc yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2020 giữa ông Nguyễn Hoàng N và bà Ninh Thị N1.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2020, giữa ông Nguyễn Hoàng N và bà Ninh Thị N1 vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng N trả lại cho bà Ninh Thị N1 số tiền 8.688.750.000 đồng (Tám tỷ sáu trăm tám mươi tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Buộc bà Ninh Thị N1 có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Sơn L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 169847, số vào số cấp GCN: CH00522/AP do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp cho ông Trần Sơn L ngày 30/7/2010.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hoàng N kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứ hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung vụ án: Ông L cho rằng ông L ký hợp đồng vay tiền của ông N số tiền 3.000.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng, nhận trước 270.000.000 đồng, sau đó nhận nhiều lần tiền không nhớ rõ cụ thể nhưng ngày 21/4/2020 ông N có chốt lại nợ 400.000.000 đồng và ngày 02/5/2020 chốt lại ông L còn nợ ông N số tiền 446.000.000 đồng. Từ ngày 14/5/2020 đến 10/12/2020 ông L vay tiếp 82.000.000 đồng. Vì đảm bảo cho việc vay tiền nên ông L và ông N lập hợp đồng ủy quyền ngày 27/02/2020.
Ông N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L. Ông N cho rằng ông L vay tiền của ông N nên có lập hợp đồng vay tiền với số tiền 3.000.000.000 đồng. Số tiền vay, ông N chuyển cho ông L nhiều lần tiền gốc lên đến 2.528.000.000 đồng. Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng độc lập không liên quan khoản vay. Ông L lập hợp đồng ủy quyền để ông N bán đất có tiền trả nợ ông N. Hợp đồng ủy quyền hợp pháp nên ông N đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đất cho bà Ninh Thị N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện bà N1 đang giữ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ninh Thị N1 có yêu cầu độc lập.
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất: Ngày 17/02/2020, ông L có vay số tiền 250.000.000 đồng của ông N. Đến ngày 17/3/2020, hai bên mới ký kết Hợp đồng vay tiền. Tổng số tiền vay theo hợp đồng là 3.000.000.000 đồng, nhận trước số tiền 250.000.000 đồng; mục đích vay: Vay tiêu dùng; lãi suất vay 4%/tháng, thời hạn vay là 02 năm kể từ ngày 17/02/2020 đến ngày 17/02/2022. Sau đó ông L nhận thêm của ông N số tiền 20.000.000 đồng. Ông L vay của ông N số tiền 270.000.000 đồng.
Nguyên đơn xác định còn nợ bị đơn số tiền 488.000.000 đồng. Xét thấy, mặt sau hợp đồng vay tiền ngày 17/3/2020 có thể hiện nội dung ngày 21/4/2020, ông N xác định ông L vay của ông N số tiền 400.000.000 đồng. Ngày 02/5/2020 chốt lại lần nữa với tổng số tiền vay 446.000.000 đồng và khoản tiền chuyển khoản sau ngày 02/5/2020 theo bản sao kê ngân hàng nhiều lần chuyển là 42.000.000 đồng. Tổng cộng nguyên đơn còn nợ bị đơn là 488.000.000 đồng. Do vậy, lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ.
Không có căn cứ xác định hợp đồng ủy quyền số công chứng 539 ngày 27/02/2020 là giả tạo vì hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng thật hoặc giả tạo để tẩu tán tài sản, tuy nhiên trong vụ án này hợp đồng thật là hợp đồng vay tiền, các bên có ký kết hợp đồng vay. Cả hai bên đều thừa nhận có hợp đồng vay tiền, không hề che giấu giao dịch này. Hợp đồng vay tiền có nội dung và hình thức phù hợp với pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay và đã xác định được số tiền vay là 488.000.000 đồng. Bị đơn đồng ý giải quyết tranh chấp hợp đồng vay nhưng xác định số tiền mà nguyên đơn nợ bị đơn là 2.528.000.000 đồng. Bản sao kê ngân hàng mà Tòa án thu thập được tại ngân hàng TMCP C5 – Chi nhánh B thể hiện rõ thời gian, số tiền bị đơn chuyển tiền cho nguyên đơn khớp với số tiền mà nguyên đơn đã nhận nên lời trình bày của đại diện nguyên đơn về số tiền đã nhận qua chuyển khoản là có cơ sở chấp nhận.
Hợp đồng vay tiền của các bên thực hiện ngày 17/02/2020, thỏa thuận với lãi suất là 4%/tháng, thời hạn vay là 02 năm kể từ ngày nhận 17/02/2020. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 470 BLDS thì hợp đồng vay của các bên là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi suất. Lãi suất thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự là 20%/năm tương ứng 1,66%/tháng. Lãi suất các bên thỏa thuận là 4%/tháng là vượt quá lãi suất quy định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì phần lãi suất thỏa thuận vượt quá không có hiệu lực. Tiền lãi tính trên từng khoản tiền vay được tính lại như sau: Số tiền 270.000.000 đồng ngày 17/3/2020 đến ngày 20/4/2020 là 35 ngày, lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền: 5.229.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi trong hạn là: 185.482.867 đồng. Đối với tiền lãi quá hạn, tại phiên tòa các bên thống nhất mức lãi chậm trả 1%/ tháng tính từ ngày 28/02/2022 đến ngày 12/8/2024 là 29 tháng 15 ngày thành tiền là 143.960.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 817.442.867 đồng. Do số tiền vay ông L chưa trả là đã vi phạm nghĩa vụ của người vay nên ông L khởi kiện yêu cầu được trả tiền nợ cho ông N là có căn cứ chấp nhận.
Không có căn cứ xác định hợp đồng ủy quyền ngày 27/02/2020 vô hiệu do giả tạo như lời đại diện nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, qua xem xét nội dung hợp đồng thể hiện ông L ủy quyền cho ông N thực hiện công việc liên quan đến quyền sử dụng đất mà không ủy quyền thực hiện công việc liên quan đến tài sản trên đất. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 30/11/2022, thể hiện trên đất có căn nhà cấp 4 mái tole, cột gạch, tường xây tô, nền xi măng có diện tích 97,2m², nhà tạm 1 có diện tích 15m², nhà tạm 2 có diện tích 49m², mái che 5,3m², chòi lá 13,5m². Các công trình nhà hiện nay do ông Cao Văn T thuê để mở quán bán nước giải khát nhưng người quản lý sử dụng là bà Lê Thị V (mẹ vợ ông T). Trường hợp đặt ra nếu người nhận ủy quyền (ông N) thực hiện theo hợp đồng ủy quyền với nội dung ủy quyền nêu trên thì không thực hiện được vì nếu chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giao quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng thì ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản của ông L hoặc chủ sở hữu tài sản hoặc người sử dụng, sở hữu tài sản khác trên đất. Cho nên hợp đồng ủy quyền nêu trên bị vô hiệu theo Điều 408 Bộ luật Dân sự do có đối tượng không thể thực hiện được.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2020 giữa ông Nguyễn Hoàng N và bà Ninh Thị N1 cần xem xét trường hợp nhận chuyển nhượng của bà N1 có thuộc trường hợp Bộ luật dân sự quy định về bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu hay không, tại Điều 133 Bộ luật Dân sự bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Trong trường hợp này, giao dịch giữa ông N và ông L tuy vô hiệu nhưng vì là hợp đồng ủy quyền cho người nhận ủy quyền được chuyển quyền sử dụng đất nên không tiến hành đăng ký tài sản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặt khác tài sản này mặc dù ông N và bà N1 thực hiện hợp đồng chuyển nhượng với nhau nhưng tài sản chưa được chuyển giao vì đất hiện nay ông L vẫn đang quản lý sử dụng và cho thuê. Như vậy bà N1 thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được xác định là ngay tình nên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và bà N1 đối với diện tích đất nêu trên bị vô hiệu theo hợp đồng ủy quyền. Mặt khác, khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà N1 phải xem kỹ hợp đồng ủy quyền ủy quyền nội dung gì, phải đến thực địa thẩm định phần đất mình nhận chuyển nhượng có còn tài sản của ai trên đất không. Trên đất có tài sản là công trình xây dựng nhưng không thỏa thuận chuyển nhượng thì cho dù thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hợp đồng không thể thực hiện được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là có căn cứ chấp nhận. Ngoài ra, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên còn giả tạo về giá (giá thực 6.300.000.000 đồng nhưng hợp đồng ghi 1.500.000.000 đồng) nên cũng bị vô hiệu do giả tạo nên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà N1.
Do giao dịch của ông N và bà N1 bị vô hiệu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Xét về yếu tố lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thấy rằng: Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2020, ông N là người được ủy quyền. Theo quy định về ủy quyền tại Điều 565 Bộ luật Dân sự, ông N có nghĩa vụ báo cho ông L biết về việc đã nhận đặt cọc đất từ bà N1 và báo cho L biết về việc đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1. Khi bà N1 thanh toán tiền ông N có trách nhiệm giao lại cho ông L. Tuy nhiên ông N không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình nên theo quy định pháp luật ông N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Mặt khác, ông N biết chưa được ông L ủy quyền đối với tài sản trên đất nhưng vẫn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1. Bà N1 biết việc ông N chưa được ủy quyền về tài sản trên đất nhưng vẫn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu như đã nhận định ở trên. Cần đối chiếu với giá chuyển nhượng ban đầu và giá đất định giá hiện nay xem có sự chênh lệch không. Nếu giá đất hiện nay cao hơn giá đất tại thời điểm chuyển nhượng thì khoản chênh lệch này các bên phải chịu theo mức độ lỗi của mình. Lỗi của ông N bắt nguồn từ ông L. Hiện nay đất do ông L quản lý nên cần buộc ông N và ông L phải chịu trách nhiệm chung về khoản bồi thường. Ông N, ông L và bà N1 có lỗi ngang nhau nên bà N1 phải chịu khoản thiệt hại 50% giá trị chệnh lệch. Kết quả đối chiếu giá đất với hai thời điểm nêu trên xác định không có chênh lệch nên không có thiệt hại xảy ra nên không ai phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ai. Tuy nhiên, bà N1 đã thanh toán cho ông N toàn bộ số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số tiền 6.300.000.000 đồng nhưng thực tế không được nhận tài sản, việc ông N đã sử dụng toàn bộ số tiền này từ thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng đến nay nhưng không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà N1. Do đó, cần buộc ông N phải thanh toán tiền lãi chậm trả cho bà N1 theo lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tính từ ngày 28/10/2020 đến ngày 12/8/2024 đối với số tiền 6.300.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng trong thời hạn là 03 năm 09 tháng 15 ngày (45,5 tháng) thành tiền là 2.388.750.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông N phải trả cho bà N1 8.688.750.000 đồng và bà N1 có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông L.
Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng N.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N phải nộp số tiền 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0002795 ngày 11/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương (do bà Phạm Thị L1 nộp thay).
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Thị Bích Diệp |
Bản án số 318/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất)
- Số bản án: 318/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
