|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 318/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/12/2023 V/v "Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Văn Vô
- Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2022 /TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số .../2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 và quyết định hoãn 235/2023/ QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1977
Thường trú: C N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
Tạm trú: Chung cư A T, Tầng A. Lok B K, Phường F, Quận H, T phồ Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Huỳnh Vĩnh N, sinh năm: 1977
Địa chỉ: C N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2022 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà và ông Huỳnh Vĩnh N kết hôn năm 2015, thời gian đầu hạnh phúc, tuy nhiên về sau do ông N thường xuyên chơi đánh bài, đánh banh trên mạng nên mắc nợ rất nhiều làm cho vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. vì vậy bà P, bỏ đi hơn 4 năm từ năm 2020, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Hiện bà P không còn tình cảm với ông N, nên bà P yêu cầu được ly hôn ông N để ổn định cuộc sống.
Trường hợp ly hôn:
- Về con chung: Bà và ông Huỳnh Vĩnh N có một người con chung là Huỳnh Gia M, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2015, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con chung không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không tạo lập tài sản chung vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
Bị đơn ông Huỳnh Vĩnh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, cũng như không tham dự các phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa không có lời trình bày; Tòa án cũng không thể tiến hành lấy lời khai cũng như mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Sau khi xem xét tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án:
Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày yêu cầu được ly hôn ông Huỳnh Vĩnh N, được trực tiếp nuôi con chung là Huỳnh Gia M sinh ngày 16 tháng 8 năm, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không rõ ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng : Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Cũng như phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào cá Điều 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Nghị quyết số 05/2012 /NQ-HĐTP ngày 03/12/2012;
Căn cứ Nghị quyết số 3 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Huỳnh Vĩnh N. Giao con chung Huỳnh Gia M
sinh ngày 16 tháng 8 năm 2015 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông N vì bà P hiện không có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn Huỳnh Vĩnh N hiện đang cư trú tại Quận E, theo kết quả xác minh của Công an P1, Quận E, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5 căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị P và ông Huỳnh Vĩnh N sống chung từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, Quận E. Giấy chứng nhận kết hôn số 64/2015, quyển số 01/2015, cấp ngày 21 tháng 10 năm 2015, nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.
Xét tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị P và ông Huỳnh Vĩnh N cho thấy:
Tuy là vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng ông Huỳnh Vĩnh N không lo làm ăn mà lại chơi cờ bạc, cá độ dẫn đến việc nợ nần, nên cả hai thường xuyên mâu thuẫn, bà P đã dẫn con ra đi, ông N không bận tâm, hòa giải vì vậy cả hai không còn yêu thương, chăm sóc, quan tâm nhau. Bà P, ông N đã ly thân hơn 4 năm, như vậy thật chất hôn nhân của bà P, ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà P cương quyết ly hôn với ông N mặc dù đã được Tòa án phân tích, động viên hòa giải đoàn tụ nhưng bà P vẫn không đồng ý hàn gắn.
Ngoài ra trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông N, tuy nhiên ông N không đến Tòa án theo các thông báo, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử điều này chứng minh ông N cũng không quan tâm đến việc hòa giải đoàn tụ cùng bà P, Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà P được ly hôn với ông N căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy cả hai đã ly thân đã lâu và bà P cũng không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn ông N để ổn định cuộc sống là có cơ sở.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Huỳnh Vĩnh N có một con chung tên Huỳnh Gia M sinh ngày 16 tháng 8 năm 2015, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng. Ngày 09 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5 bé M cũng mong muốn được ở cùng mẹ (vì từ lúc hai mẹ con rời khỏi nhà ông N bà P đã trực trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy trẻ M).
Xét thấy yêu cầu nuôi con chung của bà P là có cơ sở nên chấp nhận. Việc bà P không yêu cầu ông N cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không tạo lập tài sản chung nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không có khoản nợ nào chung và cũng không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị quyết số 05/2012 /NQ-HĐTP ngày 03/12/2012;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Huỳnh Vĩnh N.
- Về con chung: Giao con chung Huỳnh Gia M, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2015 (giới tính nữ) cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Huỳnh Vĩnh N vì bà P hiện không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không xét.
Sau khi ly hôn, ông Huỳnh Vĩnh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom chăm sóc con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc xác định mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không tạo lập tài sản chung nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị P xác định bà và ông Huỳnh Vĩnh N không có khoản nợ nào chung và cũng không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010245 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN Huỳnh Trần Thục Oanh |
Bản án số 318/2023/HNGĐ-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 318/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuy là vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng ông Huỳnh Vĩnh N không lo làm ăn mà lại chơi cờ bạc, cá độ dẫn đến việc nợ nần, nên cả hai thường xuyên mâu thuẫn, bà P đã dẫn con ra đi, ông N không bận tâm, hòa giải vì vậy cả hai không còn yêu thương, chăm sóc, quan tâm nhau. Bà P, ông N đã ly thân hơn 4 năm, như vậy thật chất hôn nhân của bà P, ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà P cương quyết ly hôn với ông N mặc dù đã được Tòa án phân tích, động viên hòa giải đoàn tụ nhưng bà P vẫn không đồng ý hàn gắn.
