|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 317/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vẹn.
Ông Lê Anh Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 110/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Kim Ngọc P, sinh năm 1969 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số I, Ô, Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1965 (Vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ tạm trú: Số I, Ô, Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, nguyên đơn bà Võ Kim Ngọc P trình bày:
- Về hôn nhân: Bà P và ông Nguyễn Tấn T cưới nhau và tổ chức lễ cưới năm 1986. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung hạnh phúc. Đến đầu năm 2021, ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên chửi mắng bà P. Ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể đoàn tụ nên bà P yêu cầu ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà P và ông T có 02 con chung là chị Nguyễn Thị Lê S, sinh ngày 10/9/1988 và anh Nguyễn Hoàng P1, sinh ngày 21/6/1997. Chị S và anh P1 đều đã thành niên nên bà P không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bà P không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà P.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Võ Kim Ngọc P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn T nên đây là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông T có nơi đăng ký thường trú tại ấp T, xã L và tạm trú tại số I, Ô, Khu B, thị trấn C, cùng thuộc huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Xét thấy nguyên đơn bà Võ Kim Ngọc P có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Tấn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông T.
[3] Về hôn nhân: Bà P và ông T chung sống trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 1986 nhưng đến nay ông bà vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, thời điểm bà P, ông T bắt đầu chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987 nên hôn nhân của ông bà vẫn là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống, bà P trình bày giữa bà và ông T xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được nên bà P yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ, Tòa án triệu tập ông T để trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng ông T đều vắng mặt. Điều đó cho thấy ông T không phản đối yêu cầu của bà P, không có thiện chí và nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà P và ông T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa bà P và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà P trình bày bà và ông T có 02 con chung là chị Nguyễn Thị Lê S, sinh ngày 10/9/1988 và anh Nguyễn Hoàng P1, sinh ngày 21/6/1997. Chị S và anh P1 đều đã thành niên nên bà P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày bà và ông T không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà P là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Kim Ngọc P, bà P được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T.
- Về án phí: Bà Võ Kim Ngọc P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007527 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên bà P đã nộp xong án phí.
Ông Nguyễn Tấn T không phải nộp án phí hôn nhân gia đình.
3. Về quyền kháng cáo: Bà P, ông T vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |
4
Bản án số 317/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 317/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Kim Ngọc P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn T
