|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 317/2024/DS-PT Ngày 24-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 206/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 225/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 305/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1992, địa chỉ: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ: số B, L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 23/12/2023); có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: số A ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ văn phòng: tầng G, Tòa nhà A G, số D, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Kim C, sinh năm 1995; đại chỉ: tầng 2, Tòa nhà A G, số D, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/6/2024); có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/11/2020, ông Nguyễn Duy P và Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt công ty Đ) ký kết thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 để đảm bảo cho việc mua căn hộ hình thành trong tương lai ký hiệu C2-12.13 thuộc Dự án khu chung cư L, khu C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền theo thỏa thuận, tổng cộng nguyên đơn đã đóng cho bị đơn số tiền 491.046.200₫ (bốn trăm chín mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm đồng). Theo Điều 4 của Thỏa thuận, Hợp đồng mua bán căn hộ phải được ký kết vào ngày 30/9/2021 (có thể chậm hơn hoặc sớm hơn nhưng không quá 03 tháng). Đến hạn ký hợp đồng mua bán, ông Nguyễn Duy P đã gửi email, gọi điện, đến trực tiếp làm việc để yêu cầu công ty Đ hoàn thành thủ tục để ký hợp đồng mua bán căn hộ nhưng phía Công ty Đ cố tình lẫn tránh. Ngày 23/02/2022, ông Nguyễn Duy P ký với Công ty Đ một phụ lục gia hạn: “Phụ lục 1”, theo đó ngày ký kết hợp đồng mua bán căn hộ gia hạn đến ngày 31/12/2022. Nhưng đến nay, dự án vẫn không đủ điều kiện ký kết hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ông Nguyễn Duy P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Chấm dứt thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 ký ngày 24/11/2020 và Phụ lục số 01 ký ngày 23/02/2022 giữa ông Nguyễn Duy P và Công ty Cổ phần Đ.
- Buộc Công ty Cổ phần Đ trả lại số tiền ông Nguyễn Duy P đã đóng là 491.046.200đ (bốn trăm chín mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm đồng).
- Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả tiền lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng theo phụ lục số 01, cụ thể:
- + Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 là: 491.046.200 đồng x 181 ngày x 0.02%/ngày = 17.775.872 đồng.
- + Từ ngày 01/7/2022 đến ngày 30/9/2022 là: 491.046.200 đồng x 92 ngày x 0.03%/ngày = 13.552.875 đồng.
- + Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 31/12/2022 là: 491.046.200 đồng x 92 ngày x 0.04%/ngày = 18.070.500 đồng.
- + Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 11/4/2024 là: 491.046.200 đồng x 424 ngày x 0.02%/ngày = 45.863.715 đồng.
Tổng số lãi phát sinh đến ngày xét xử 11/4/2024 là 95.262.963 đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền mà ông Nguyễn Duy P yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải trả là 586.309.163đ (năm trăm tám mươi sáu triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, một trăm sáu mươi ba đồng).
2. Theo bản tự khai ngày 18/3/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ là ông Triệu Phúc T1 trình bày:
Bị đơn thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về thời gian ký thỏa thuận đặt cọc, phụ lục 01 và số tiền đặt cọc là 491.046.200đ. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sau khi hai bên ký kết thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020, dịch bệnh Covid-19 bùng phát nhiều lần và kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ xây dựng của dự án và Công ty đã cố gắng nỗ lực vượt qua những khó khăn để thực hiện các thủ tục nhằm đảm bảo tiến độ ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng. Đến thời điểm hiện nay, Công ty đã được Sở Xây dựng tỉnh B cấp giấy phép xây dựng số 668/GPXD ngày 01/3/2022 và dự kiến đến ngày 31/12/2023 dự án sẽ đáp ứng các điều kiện để ký kết hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có ý kiến như sau:
Bị đơn đồng ý chấm dứt thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 ký kết ngày 24/11/2020 và phụ lục số 01 ký ngày 23/02/2022. Đồng thời, bị đơn đồng ý hoàn lại tiền cọc đã nhận là 491.046.200đ (bốn trăm chín mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm đồng). Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi bị đơn không đồng ý bởi lẽ: Việc chấm dứt thỏa thuận đặt cọc một phần do sự kiện khách quan bất khả kháng đó là dịch bệnh Covid-19. Căn cứ điểm 1.1.1 Điều 11 các bên đã thỏa thuận sự kiện bất khả kháng quyền và nghĩa vụ của bị đơn sẽ được miễn trừ. Mặt khác, quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán ông P đã vi phạm nghiêm trọng thời hạn thanh toán, cụ thể:
- Lần 2 thanh toán chậm 02 ngày;
- Lần 3 thanh toán chậm 14 ngày;
- Lần 4 thanh toán chậm 12 ngày;
- Lần 5 thanh toán chậm 226 ngày.
Sự vi phạm trên mang tính chất nghiêm trọng và là yếu tố ảnh hưởng đến thời hạn ký hợp đồng mua bán, đồng thời phát sinh lãi phạt là 3.105.840đ. Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền này cho bị đơn.
Đối với yêu cầu trả lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng mua bán căn hộ bị đơn không đồng ý vì hành vi đơn phương chấm dứt thỏa thuận của nguyên đơn thông qua việc khởi kiện đã vi phạm khoản 2.2 Điều 2 Phụ lục 01 nên các khoản hỗ trợ sẽ không được áp dụng.
Đối với thời gian chậm thanh toán tổng cộng là 253 ngày thì căn cứ Điều 2.3 Phụ lục 01 số ngày chậm thanh toán trên sẽ được trừ tương đương với số ngày bên nguyên đơn chậm thanh toán. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét loại trừ thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng là 133 ngày và thời gian chậm thanh toán của nguyên đơn là 253 ngày.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chấm dứt Thỏa thuận đặt cọc giữa nguyên đơn ông Nguyễn Duy P với bị đơn Công ty Cổ phần Đ, cụ thể:
- - Chấm dứt Thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 ký kết ngày ngày 24/11/2020 và Phụ lục số 01 ký ngày 23/02/2022 giữa Công ty Cổ phần Đ với ông Nguyễn Duy P;
- - Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Duy P số tiền đặt cọc là 491.046.200đ (bốn trăm chín mươi mốt triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm đồng).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng mua bán căn hộ:
- - Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc thanh toán cho bị đơn số tiền 3.105.840đ (ba triệu một trăm lẻ năm nghìn tám trăm bốn mươi đồng).
- - Buộc Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Duy P số tiền lãi là 95.262.963 đồng (chín mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 16/4/2024 bị đơn Công ty Cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án nêu trên theo đúng quy định pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn Công ty Cổ phần Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần tiền lãi. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung vụ án:
[1.1] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thời gian, nội dung của thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 ký kết ngày 24/11/2020, phụ lục số 01 giữa ông Nguyễn Duy P và Công ty Đ; số tiền ông P đã đặt cọc cho Công ty Đ là 491.046.200đ. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết, chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Xét thấy, Hợp đồng đặt cọc số C1-14.10/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 26/11/2020, kèm phụ lục 01 ngày 23/02/2022 giữa ông Nguyễn Duy P và Công ty Đ được giao kết nhằm đảm bảo cho việc xác lập và ký kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai đối với căn hộ số C2-12.13 thuộc dự án khu C tại Lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi ký hợp đồng đặt cọc các bên đã xác định rõ đây là việc đặt cọc để đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai không nhằm huy động vốn, không thuộc trường hợp vi phạm hình thức huy động vốn theo quy định tại Điều 68 Luật Nhà ở và Điều 19 của Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ. Nên đây là giao dịch đặt cọc, nhằm đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, không phải hình thức huy động vốn. Hợp
đồng đặt cọc được lập thành văn bản, có những thỏa thuận cụ thể về đối tượng được đảm bảo, về số tiền đặt cọc và thời gian ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai và trách nhiệm của các bên. Việc ký hợp đồng đặt cọc trên là hoàn toàn tự nguyện, đúng ý chí của các bên, không bị ép buộc, lừa dối. Mục đích và nội dung của thỏa thuận đặt cọc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thẩm quyền. Căn cứ vào Điều 117 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự thì thỏa thuận đặt cọc số C2-12.13/TTĐC-LDGSKY/2020 ký kết ngày 24/11/2020 và Phụ lục 01 ký ngày 23/02/2022 giữa ông Nguyễn Duy P và Công ty Đ phát sinh hiệu lực đối với các bên.
[1.3] Thực hiện theo thỏa thuận đặt cọc, ông P đã giao cho Công ty Đ số tiền đặt cọc là 491.046.200đ. Về quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ được quy định tại Điều 6 Thỏa thuận trong đó tại mục 6.1.b quy định: “bên A có nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định pháp luật để ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ với bên B”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận, cụ thể: Công ty Đ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh theo quy định tại Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản. Điều đó thể hiện ngày 01/3/2023 Sở xây dựng mới cấp Giấy phép xây dựng số 668/GPXD cho Công ty Đ và chưa có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà. Các bên thỏa thuận với nhau thời hạn ký hợp đồng mua bán căn hộ theo phụ lục số 03 ngày 15/6/2022 dự kiến là ngày 30/6/2022 (có thể sớm hơn hoặc muộn hơn không quá 03 tháng), nhưng đến nay Công ty Đ không cung cấp được hồ sơ pháp lý của dự án chung cư L có đủ điều kiện để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Mặc dù, tại mục 1.2.3 của phụ lục có thỏa thuận “trong vòng 07 ngày kể từ ngày 01/01/2023, nếu bên B không có đề nghị bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt thỏa thuận đặt cọc thì hai bên xác nhận rằng bên B đồng ý tiếp tục thỏa thuận đặt cọc”. Tuy nhiên, theo Công văn số 3290/SXD-TTrXD ngày 13/9/2023 của Sở Xây dựng tỉnh B cung cấp thông tin là Công ty Đ đã nộp hồ sơ trực tuyến đề nghị xác nhận đủ điều kiện huy động vốn nhưng đã rút hồ sơ đến thời điểm hiện nay dự án khu chung cư lô C1 chưa được Sở Xây dựng thông báo đủ điều kiện huy động vốn theo hình thức bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tại biên bản xác minh ngày 10/01/2024 thì công trình chung cư lô C1 hiện đang ngưng hoạt động. Điều này phù hợp với lời trình bày của đại diện bị đơn tại phiên tòa, từ khi được cấp giấy phép xây dựng công trình ngưng thi công đến nay. Công ty Đ không cung cấp được chứng cứ về việc đủ điều kiện để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Mặc dù, sau ngày 01/01/2023, nguyên đơn không có văn bản về đơn phương chấm dứt thỏa thuận đặt cọc với bị đơn nhưng bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận về việc đủ điều kiện ký kết hợp đồng mua bán
căn hộ. Theo quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự: “1.Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt thỏa thuận đặt cọc, bị đơn cũng đồng ý chấm dứt thỏa thuận đặt cọc và đồng ý thanh toán lại số tiền nguyên đơn đặt cọc là 491.046.200đ. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử sẽ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chấm dứt thỏa thuận đặt cọc và phụ lục 01giữa nguyên đơn và bị đơn.
[1.4] Đối với yêu cầu tính lãi do chậm hoàn trả lại tiền cọc của nguyên đơn: Xét thấy, bị đơn cho rằng không có lỗi trong việc chậm ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ, việc chậm trễ này do dịch bệnh Covid-19 là trường hợp bất khả kháng nên yêu cầu nguyên đơn thanh toán tiền lãi phạt chậm thanh toán là 3.105.840 đồng và không đồng ý thanh toán tiền lãi do vi phạm thời gian ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Xét lỗi dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng là do Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Điều 6 của thỏa đặt cọc “đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ với bên B”. Do đó, theo quy định tại điểm 5.3 của thỏa thuận đặt cọc, các bên đã thỏa thuận: trường hợp hợp đồng mua bán căn hộ không được ký kết hoàn toàn do lỗi của bên A thì bên A có trách nhiệm trả cho bên B số tiền đã thanh toán và khoản tiền lãi. Nguyên đơn và bị đơn thống nhất số tiền cọc ông P đã đóng là 491.046.200 đồng. Tại mục 1.2.1 Điều 1 của Phụ lục 01 ngày 23/02/2022 giữa Công ty Đ với ông P có thỏa thuận về phạt vi phạm dưới hình thức trả lãi. Nên có căn cứ chấp nhận số tiền phạt vi phạm bằng hình thức tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm theo thỏa thuận tại Phụ lục 01 ngày 23/02/2022, cụ thể như sau:
- Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 là 0.02%/ngày x 181 ngày x 491.046.200 đồng = 17.775.872 đồng;
- Từ ngày 01/7/2022 đến ngày 30/9/2022 là 0.03%/ngày x 92 ngày x 491.046.200 đồng = 13.552.875 đồng;
- Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 31/12/2022 là 0.04%/ngày x 92 ngày x 491.046.200 đồng = 18.070.500 đồng;
- Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 11/4/2024 là 0.02%/ngày x 446 ngày x 491.046.200 đồng = 45.863.715 đồng.
Tổng cộng tiền lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng là 95.262.963 đồng.
Như vậy, ông P yêu cầu Công ty Đ phải trả lại tổng số tiền là 586.309.163
đồng (năm trăm tám mươi sáu triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, một trăm sáu mươi ba đồng).
[1.5] Về tiền vi phạm nghĩa vụ thanh toán: bị đơn cho rằng trong quá trình thực hiện thỏa thuận nguyên đơn vi phạm về thời gian thanh toán nên yêu cầu nguyên đơn thanh toán tiền lãi phạt chậm thanh toán là 3.105.840 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý trả số tiền phạt do chậm thanh toán cho bị đơn. Đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, không trái quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
[2] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002810 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 317/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 317/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
