|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 317/2024/HSST
Ngày: 21-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Phương Hồ;
- Ông Nguyễn Văn Vân.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo-Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 292/2024/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST–HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đới Hoàng Khánh L, sinh năm: 2001 tại tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nơi thường trú: Thôn E, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Đới Ngọc M, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm: 1976; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phạm Văn B1, sinh năm: 1943 (đã chết).
Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1948. Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị Anh T, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Số D T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Kim H1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số G đường số E, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị K, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị Kim N, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Số D B, Phường I, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà H, bà T1, bà H1, bà H2, bà N: Bà Phạm Thị K, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị K, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Số G P, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).
- Ông Đới Ngọc M, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Thôn E, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 26 phút ngày 08/5/2024, Đới Hoàng Khánh L điều khiển xe ô tô tải biển số 93H-021.50 chở Y Phôl N1 (là phụ xe) lưu thông trên đường N hướng Quốc lộ B đi Tỉnh lộ 2. Khi đến trước số nhà H đường N thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì L nhìn thấy đối diện là ông Phạm Văn B1, sinh năm 1943, điều khiển xe mô tô biển số 59Y2-037.26 lưu thông ngược chiều trên phần đường bên phải (theo hướng xe của L) cách khoảng 40m. Lúc này, L điều khiển xe ô tô tải tránh về bên trái lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 40cm, cách phía trước xe của ông B1 khoảng 20-25 mét thì ông B1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng lại về phần đường của mình, do xử lý tay lái kém nên xe của L va chạm với xe mô tô biển số 59Y2-037.26 của ông B1 gây ra tai nạn. Hậu quả: Ông B1 chết sau cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 cùng ngày.
Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường N phía trước nhà số H đường N, ấp B, xã T, huyện C, là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, rộng 06m00, giữa đường có vạch phân tuyến màu vàng không liên tục, chia đường thành hai phần bằng nhau mỗi bên rộng 03m00, áp dụng xe lưu thông hai chiều. Lấy mép đường bên trái đường N theo hướng Quốc lộ B đi Tỉnh lộ 2 làm chuẩn, vị trí vết phanh bánh xe bên trái của xe ô tô tải biển số 93H-021.50 dài 09m00, đầu vết phanh cách lề chuẩn 02m60, cuối vết phanh nằm tại dưới lốp bánh xe sau bên trái cách lề chuẩn 02m00. Đầu xe ô tô tải hướng về Tỉnh lộ 2, đuôi xe hướng về Quốc lộ B. Vị trí xe mô tô biển số 59Y2-037.26 ngã phải, đầu xe hướng Quốc lộ B, trục bánh trước đo vào lề là 0m50, trục bánh sau đo vào lề là 01m40, vết cày dài 01m80, đầu vết cày do vào lề là 02m20, cuối vết cày do vào lề là 01m50.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 369/KLGĐTT.2024 ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H, kết luận: “Nguyên nhân chết của Phạm Văn B1 là đa chấn thương, nồng độ Ethanol trong máu 78,38mg/100ml”.
Kết luận giám định số 3088/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“Dấu vết va chạm, chiều hướng va chạm giữa xe mô tô biển số 59Y2-037.26 với xe ô tô biển số 93H-021.50 và với phương tiện hoặc vật cản khác:
- Dấu vết bên trái phía trước xe ô tô biển số 93H-021.50 (trượt xước, biến dạng, mất chất màu trắng, bám chất màu đỏ, đen mặt ngoài cản bảo hiểm trước, trượt xước, gãy vỡ cụm đèn chiếu sáng) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết phía trước bên trái xe mô tô biển số 59Y2-037.26 (trượt xước, gãy vỡ, mất chất màu đen, đỏ, bám chất màu trắng mặt ngoài các bộ phận: cung trước chắn bùn bánh trước, ốp giảm xóc trước, cánh yếm, ốp phía trước đầu xe, tay lái) có chiều từ trước về sau.
- Dấu vết trượt xước cao su mặt lăn và mặt ngoài bên trái lốp bánh trước bên trái xe ô tô biển số 93H-021.50, có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh, ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết bên trái xe mô tô biển số 59Y2-037.26 (trượt xước, biến dạng, bám chất màu đen mặt ngoài các bộ phận: cần số, chống nghiêng, để chân trước, lốc máy, hộp xích, chân chống đứng, bánh sau) có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, khi xe mô tô biển số 59Y2-037.26 đã đổ phải trên mặt đường.
- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 59Y2-037.26 và xe ô tô biển số 93H-021.50 với phương tiện hoặc vật cản khác.
- Khi va chạm, xe ô tô biển số 93H-021.50 lưu thông trên đường N hướng Quốc lộ B đi hướng Tỉnh lộ 2 và có tốc độ xác định theo phương pháp tính toán là từ 40km/h đến 42km/h, xe mô tô biển số 59Y2-037.26 lưu thông trên đường N theo hướng ngược lại.
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 59Y2-037.26 với xe ô tô biển số 93H-021.50 chiếu xuống mặt đường nằm ở phần đường bên trái trên đường N hướng Quốc lộ B đi hướng Tỉnh lộ 2”.
Tại Cáo trạng số 276/CT-VKS-CC ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyên Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đới Hoàng Khánh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Đới Hoàng Khánh L thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 93H-021.50 lưu thông trên đường N hướng Quốc lộ B đi Tỉnh lộ 2. Khi đang lưu thông trên đường N đến địa phận thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo nhìn thấy có người điều khiển xe mô tô biển số 59Y2-037.26 lưu thông ngược chiều trên phần đường bên phải theo hướng xe của bị cáo, cách khoảng 40m. Lúc này bị cáo điều khiển xe ô tô tải tránh về bên trái lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 40cm, cách phía trước xe của người điều khiển xe máy khoảng 20-25m thì bất ngờ người điều khiển xe máy chuyển hướng lại về phần đường của mình dẫn đến tai nạn. Bị cáo dừng xe lại sát bên đường, cùng người dân đưa nạn nhân đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 nhưng bệnh nhân không qua khỏi. Sau tai nạn, bị cáo và gia đình đến thăm hỏi, phụ tang lễ, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000đ, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại và làm đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp bị hại là bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị Anh T, bà Phạm Kim H1, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị K và bà Phạm Thị Kim N- có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Kiều X vắng mặt, hồ sơ thể hiện gia đình ông Phạm Văn B1 đã được bị báo L1 bồi thường số tiền 150.000.0000đ, không yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin bãi nại cho bị cáo L và xin không xử lý hình sự đối với bị cáo L.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Kiều X vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện chiếc xe máy biển số 59Y2-037.26 là tài sản của bà, ngày 08/5/2024, ông B1 tự ý lấy xe máy của bà đi dự đám giỗ bà hoàn toàn không biết. Bà đã được nhận lại xe máy nói trên và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đới Ngọc M trình bày: Chiếc xe ô tô tải số 93H-021.50 là tài sản của ông, ngày 08/5/2024, ông giao xe ô tô tải cho con trai là bị cáo L để đi giao hàng, không may xảy ra tai nạn. Ông đã cùng với bị cáo L khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Ông đã được nhận lại xe ô tô tải biển số 93H-021.50 và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Đ a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 xử phạt bị cáo Đới Hoàng Khánh L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về vật chứng vụ án:
- 01 xe ô tô tải biển số 93H-021.50, số máy J08EUF15780, số khung RNJFL8JTSFXX15813 và 01 xe mô tô biển số 59Y2-037.26, số máy 5C63441193, số khung RLCS5C630BY441143 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đới Ngọc M và bà Phạm Thị Kiều .
- 01 USB có chứa 01 đoạn video ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông đề nghị tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án để phục vụ tra cứu.
Bị cáo Đới Hoàng Khánh L tranh luận, không tự bào chữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đới Ngọc M không tranh luận.
Bị cáo Đới Hoàng Khánh L nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận đối với hành vi của bị cáo đã gây ra, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo còn có điều kiện đi làm phụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Ngày 08/5/2024, bị cáo Đới Hoàng Khánh L có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 93H-021.50 tránh xe đi ngược chiều không đúng quy định dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 59Y2-037.26 đang lưu thông ngược chiều, vi phạm Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 17 của Luật giao thông đường bộ và làm chết một người. Bằng hành vi trên thì bị cáo Đới Hoàng Khánh L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an chung cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Bị cáo nhận thức rõ khi tham giao giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo vi phạm dẫn đến phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt là cần thiết.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại; phía bị hại tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, có nồng độ còn trong máu nên cũng có một phần lỗi dẫn đến tai nạn. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định về hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
Xét các bị cáo Đới Hoàng Khánh L có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, từ lúc phạm tội bị phát hiện cho đến nay, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, Hội đồng xét xử xét nếu không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do bị cáo L có đủ điều kiện quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 nên Hội đồng xét xử đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.
[5] Về vật chứng vụ án:
- 01 xe ô tô tải biển số 93H-021.50, số máy J08EUF15780, số khung RNJFL8JTSFXX15813. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu, xử lý nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 xe mô tô biển số 59Y2-037.26, số máy 5C63441193, số khung RLCS5C630BY441143. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu, xử lý nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 USB có chứa 01 đoạn video ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông, Hội đồng xét xử xét tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án để phục vụ cho việc tra cứu.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về các vấn đề khác:
Ông Phạm Văn B1 có hành vi điều khiển xe máy tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định. Việc ông B1 tự ý lấy xe mô tô biển số 59Y2-037.26 tham gia giao thông bà Phạm Thị K hoàn toàn không biết, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với bà K là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc bị cáo Đới Hoàng Khánh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đới Hoàng Khánh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018.
Xử phạt bị cáo Đới Hoàng Khánh L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đới Hoàng Khánh L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Đới Hoàng Khánh L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Đới Hoàng Khánh L phải chịu là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Đới Hoàng Khánh L).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 317/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 317/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
