Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 317/2024/HSST

Ngày 04/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Hiền.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền, Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, điểm cầu tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 273/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, sinh năm 1988; tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Đặng Thị N, chưa có vợ, con; theo danh chỉ bản số [...] ngày 28/06/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền sự; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 213/2019/HSST ngày 20/12/2019 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023; Nhân thân:

  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 174/2007/HS-ST ngày 05/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 432/2008/HS-ST ngày 08/9/2008 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2009, đã được xóa án tích.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 110/2012/HS-ST ngày 20/02/2012 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 50 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2015, đã được xóa án tích.

Bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/06/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, Nguyễn Văn H đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0588.743.xxx đến số điện thoại 0969.859.xxx của H nói “Em lấy cho anh 1.000.000 đồng ma túy đá” thì được H đồng ý. Đồng thời người này tiếp tục nói “Khoảng 18 giờ, lúc nào anh gọi thì lấy cho anh”. H đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H đi xe ôm từ nhà đến khu vực vườn hoa N thuộc phường V, quận H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết 800.000 (tám trăm nghìn) đồng ma tuý tổng hợp dạng đá và được người này đồng ý. H lấy số tiền 800.000 đồng trong người đưa cho người này và được người này đưa lại 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng. Mua xong, H cất giấu vào bên trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, người đàn ông sử dụng số 0588743795 gọi cho H hẹn giao ma túy tại đoạn giao phố Q, đường Q, tổ dân phố G, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Sau đó, H đi xe đạp màu trắng đi từ nhà đến điểm giao ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn giao phố Q, đường Q, tổ dân phố G, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường V phối hợp cùng với Công an phường P kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của H 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, H trình bày là ma tuý tổng hợp dạng đá. Cơ quan điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời đưa H về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5) cm chứa tinh thể màu trắng, 01 xe đạp màu trắng đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ 4G VOLTE, lắp sim số 0969859396;

Tại bản kết luận giám định số 4802/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng có khối lượng là 0,361 gam là ma túy loại Methamphetamine”.

Tại bản cáo trạng số 266/CT-VKS-HĐ ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Xử phạt: Nguyễn Văn H từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.

* Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe đạp màu trắng đã qua sử dụng và 01(một) điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ 4G VOLTE, lắp sim số 0969859396 đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trương Trọng V và bị cáo Nguyễn Văn H (bên trong có ma túy Methamphetamine).
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, tại khu vực cuối ngõ D, phố B, đoạn giao với phố Q, đường QL6, tổ dân phố G, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường V phối hợp với công an phường P trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi cất giấu 01(một) túi nilon bên trong có chứa ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,361 gam với mục đích bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện và bắt quả tang người cùng tang vật. Với hành vi cất giấu ma tuý nêu trên của Nguyễn Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt đã được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi H nhận thức rõ ma túy là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn mua về để bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy mà nó còn góp phần làm gia tăng tệ nạn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm và các bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa, lần phạm tội này của H thuộc trường hợp “Tái phạm” nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ án bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa bị cáo đều đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo có 04 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa. Điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật nhiều lần cải tạo, giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà ngày càng lao sâu vào con đường tái phạm tội. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với H. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.

[8] Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy: H khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại vườn hoa N thuộc phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã dẫn giải H đến vị trí mua ma túy nhưng không xác định được người bán ma túy cho H. Do H không biết rõ nhân thân lý lịch, địa chỉ, họ tên của người đã bán ma túy cho H là gì ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng ngoài lời khai của H không còn tài liệu chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nhân thân của đối tượng trên, nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn H: H khai có 01 người nam giới không quen biết sử dụng số thuê bao 0588743795 hỏi mua ma túy của H. Quá trình điều tra xác định chủ sử dụng số thuê bao 0588743795 là anh Đặng Quốc D, sinh năm 1975, hộ khẩu thường trú: xã M, huyện C, tỉnh Quảng Ninh. Anh D trình bày trước đây có đăng ký và sử dụng số thuê bao 0588743795 đến ngày 10/6/2024 anh D bị rơi mất điện thoại bên trong lắp sim số 0588743795 và hiện tại anh cũng không biết ai đang sử dụng số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) xe đạp màu trắng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ 4G VOLTE, lắp sim số 0969859396 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra đã làm rõ được H đã sử dụng chiếc điện thoại và xe đạp này vào liên hệ, trao đổi, vận chuyển mua bán ma túy, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trương Trọng V và bị cáo Nguyễn Văn H (bên trong có ma túy Methamphetamine). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/06/2024.

  4. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106; khoản 2 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
  5. + Về xử lý vật chứng:

    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe đạp màu trắng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ 4G VOLTE, lắp sim số 0969859396 đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trương Trọng V và bị cáo Nguyễn Văn H (bên trong có ma túy Methamphetamine), theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.
    • - Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Công an quận Hà Đông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông;
  • - Chi cục thi hành án Dân sự quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Hồng Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 317/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 317/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger