|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 317/2024/DS-PT Ngày 20 – 5 – 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu di dời trả đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh.
Ông Lê Hoàng Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu di dời, trả đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1256/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1972 và chị Phạm Thị Bích H, sinh năm 2004; cùng địa chỉ: Tổ A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
-
Bị đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: Anh Trần Hùng Duy K, sinh năm 1995; địa chỉ: F, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 30/3/2022, có mặt)
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Liên Thúy H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bà Liên Thúy H2: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1963; địa chỉ: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
-
Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hòa H3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị N1, Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền số 144/UQ-UBND ngày 13/7/2023, có đơn xin vắng mặt)
-
Chị Liên Thúy H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1972, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị L trình bày:
Cha mẹ bà là cụ Phạm Văn B (sinh năm 1932, chết năm 2014) và cụ Nguyễn Thị N2 (sinh năm 1933, chết năm 2012) có 09 người con chung, gồm: ông Phạm Văn P, ông Phạm Văn K1 (chết năm 2021), bà Phạm Thị T (chết trước cha mẹ), ông Phạm Văn N, ông Phạm Văn N3 (chết trước cha mẹ), bà Phạm Thị L1 (chết năm 2022), bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị L2 và bà (Phạm Thị L).
Khoảng năm 1997, cha mẹ bà phân chia tài sản cho các con, theo đó, ai nhận đất thì được tách thửa sang tên, còn ai không nhận đất thì được 10.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24k. Những người nhận đất gồm: ông P, ông N, ông N3, bà L2 và bà (Làng), những người còn lại nhận tiền và vàng. Phần đất bà nhận là đất ao, diện tích 297,4m², có dựng 01 nhà sàn từ năm 1992. Năm 2001, bà thuê người lấp ao và xây lại nhà mới để ở cho đến nay.
Năm 2002, bà làm thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất cho hộ gia đình (gồm bà và con của bà là chị Phạm Thị Bích H) đối với diện tích đất trên vào ngày 05/01/2007 (thửa 40, tờ bản đồ số 38, thị trấn Đ).
Năm 2003, bà Phạm Thị Đ xin bà cho cất nhà (khung gỗ, mái và vách tole) ở nhờ, kích thước ngang khoảng 05m, dài khoảng 12m. Bà có nhu cầu chuyển nhượng một phần đất để có tiền sửa chữa nhà thì xảy ra tranh chấp. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà Đ cùng với con của bà Đ là chị Liên Thúy H1 tháo dỡ, di dời nhà, trả lại cho bà diện tích đất 62,3m².
Bị đơn là bà Phạm Thị Đ do người đại diện hợp pháp là anh Trần Hùng Duy K trình bày:
Phần đất tranh chấp, cụ B và cụ N2 chia cho bà L và bà Đ mỗi người một nền. Năm 2000, bà L xây nhà trên phần đất mặt tiền; năm 2003, bà Đ xây nhà trên phần đất phía sau nhà của bà L.
Năm 2007, bà Đ làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì bà L ngăn cản, rồi tự ý kê khai hết diện tích đất tranh chấp. Năm 2015, hai bên thỏa thuận phân chia đất, nhưng khi làm thủ tục đăng ký thì anh Phạm Văn T1 (người sử dụng đất liền kề) không thống nhất ranh giới đất nên không đồng ý ký giáp ranh, do đó, bà Đ chưa thực hiện được việc sang tên phần đất của mình. Bà Đ không chấp nhận trả lại đất theo yêu cầu của bà L và có yêu cầu phản tố, yêu cầu hủy GCNQSD đất số H00593cL ngày 03/01/2007 cấp cho bà L đối với thửa đất trên, buộc bà L tháo dỡ, di dời trại tạm bằng gỗ (dùng bán nước giải khát); công nhận cho bà Đ được quyền sử dụng ½ diện tích thửa đất trên là 148,7m².
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Liên Thúy H1 do người đại diện hợp pháp là ông Phạm Văn N trình bày: Thống nhất ý kiến của bà Phạm Thị Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện A không có ý kiến về tranh chấp của các bên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định (tóm tắt):
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L và chị Phạm Thị Bích H yêu cầu bà Phạm Thị Đ và chị Liên Thúy H1 tháo dỡ, di dời nhà, trả lại diện tích đất theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 29/6/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị Đ.
Bà Phạm Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 129m² tại các điểm 30, 57, 37, 43, 34; bà Phạm Thị L được quyền sử dụng diện tích đất 144,4m² tại các điểm 37, 43, 44, 52 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 11/9/2023 của Công ty TNHH Đ2.
Công nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Đ, không yêu cầu bà Phạm Thị L hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch 7,7m².
Bà Phạm Thị Đ và chị Liên Thúy H1 có nghĩa vụ di dời căn nhà diện tích 59,9m² tại các điểm 38, 50, 46, 47, 48, 42, 39 và sàn nước 4,5m² tại các điểm 50, 49, 45, 46 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 11/9/2023 của Công ty TNHH Đ2.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị Đ yêu cầu bà Phạm Thị L tháo dỡ, di dời mái che.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/10/2023, nguyên đơn là bà Phạm Thị L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ Nguyên đơn và Bị đơn để lại. Các anh chị em trong gia đình đều xác định cha mẹ tặng cho chung bà L và bà Đ. Bà L không chứng minh được việc bà cho bà Đ mượn đất nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Đề nghị bác kháng cáo của Nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn Kháng cáo của nguyên đơn là bà Phạm Thị L làm trong hạn luật định và hợp lệ nên chấp nhận.
[2] Về yêu cầu kháng cáo (cũng là yêu cầu khởi kiện) của nguyên đơn:
[2.1] Các đương sự thống nhất xác định nguồn gốc đất tranh chấp do cha mẹ tạo lập có diện tích 297,4m², thửa 40, tờ bản đồ số 38, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, trừ diện tích đất dùng làm lối đi chung cho các anh chị em trong gia đình (24m²) thì diện tích đất tranh chấp còn lại là 273,4m²; trên đất có 02 căn nhà (01 căn của bà Phạm Thị L và 01 căn của bà Phạm Thị Đ). Bà L cho rằng, bà được cha mẹ cho riêng thửa đất này, đã kê khai, đăng ký (ngày 24/12/2002) và đã được cấp GCNQSD đất ngày 03/01/2007. Còn theo bà Đ khai, thửa đất trên cha mẹ cho chung hai chị em nên bà và bà L cùng cất nhà trên đất; khi bà L đăng ký quyền sử dụng đất thì bà đi làm ăn xa nên không biết.
[2.2] Xét thấy, việc cho đất theo lời khai của các đương sự đều không có tài liệu, chứng cứ thể hiện. Tại Biên bản hòa giải ngày 29/02/2020 của Hội đồng hòa giải xã Đ (bút lục số 26, 27) và Đơn Tường trình ngày 02/4/2021 (bút lục số 30), các anh chị em trong gia đình (trừ bà L) đều thừa nhận đất tranh chấp được cha mẹ cho chung hai chị em bà Đ và bà L. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đ khai, bà L có giao GCNQSD đất đối với thửa đất đang tranh chấp cho bà để làm thủ tục tách thửa, nhưng bà L lại khai, bà đưa GCNQSD đất cho bà Đ với mục đích giúp bà Đ tranh chấp lối đi với hộ giáp ranh. Như vậy, lời khai của bà L đã thể hiện sự mâu thuẫn nội tại, vì nếu bà L là người có quyền sử dụng đất hợp pháp thì bà phải là người đứng ra tranh chấp với người khác, khi bà L giao cho bà Đ thực hiện quyền này thì mặc nhiên bà L đã thừa nhận bà Đ có quyền đối với thửa đất tranh chấp.
[2.3] Theo xác nhận của cán bộ địa chính xã Đ, thì có sự việc cơ quan đăng ký đất đai có thẩm quyền đến đo đạc thửa đất tranh chấp để làm thủ tục tách thửa theo lời khai của bà Đ, nhưng do không thống nhất ranh đất với hộ sử dụng đất liền kề nên việc đo đạc không thành. Mặt khác, quá trình hòa giải cơ sở, Hội đồng hòa giải cũng nhận định thửa đất trên được cha mẹ cho chung bà L và bà Đ.
[2.4] Với nhận định trên, có cơ sở xác định, bà L và bà Đ được cha mẹ cho chung thửa đất tranh chấp, do đó, việc bà L được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất này là không đúng quy định của pháp luật về đất đai.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với Bị đơn, đồng thời chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Bị đơn đối với Nguyên đơn là có căn cứ. Các phần quyết định của Bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm đều đúng pháp luật.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của Nguyên đơn không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên Nguyên đơn phải chịu án phúc phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Phạm Thị L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Áp dụng: Điều 203 của Luật Đất đai; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L và chị Phạm Thị Bích H yêu cầu bà Phạm Thị Đ và chị Liên Thúy H1 tháo dỡ, di dời nhà, trả lại diện tích đất theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 29/6/2021 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Phạm Thị Đ đối với nguyên đơn là bà Phạm Thị L.
Bà Phạm Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 129m² tại các điểm 30, 57, 37, 43, 34 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 11/9/2023 của Công ty TNHH Đ2.
Bà Phạm Thị L được quyền sử dụng diện tích đất 144,4m² tại các điểm 37, 43, 44, 52 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 11/9/2023 của Công ty TNHH Đ2.
Bà Phạm Thị Đ và chị Liên Thúy H1 có nghĩa vụ di dời căn nhà diện tích 59,9m² tại các điểm 38, 50, 46, 47, 48, 42, 39 và sàn nước 4,5m² tại các điểm 50, 49, 45, 46 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 11/9/2023 của Công ty TNHH Đ2.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị Đ yêu cầu bà Phạm Thị L tháo dỡ, di dời mái che.
- Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị L và bà Phạm Thị Đ mỗi người phải chịu 6.172.800 (sáu triệu một trăm bảy mươi hai ngàn tám trăm) đồng chi phí tố tụng. Bà L đã nộp 1.851.400 (một triệu tám trăm năm mươi mốt ngàn bốn trăm) đồng, bà Đ đã nộp 10.494.200 (mười triệu bốn trăm chín mươi bốn ngàn hai trăm) đồng nên bà L phải hoàn trả cho bà Đ 4.321.400 (bốn triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn bốn trăm) đồng.
-
Về án phí:
-
Án phí sơ thẩm:
Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai số 0004807 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang. Bà L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai số 0000416 ngày 14/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Đ đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai số 0000016 ngày 20/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà L đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
-
Án phí sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Tuấn |
Bản án số 317/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu di dời trả đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 317/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu di dời trả đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
