Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 317/2024/HSST

Ngày: 21 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lê Thị Thiện;
  2. Ông Huỳnh Hoàng Thuận.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 357/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Trung N, sinh năm 1997 tại Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: B khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Thị H; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Lý Thanh T1 và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 cho đến nay.

  2. Lê Minh T2, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 3 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Ngọc C1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân:

    Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 152/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/5/2020 và án phí.

    Ngày 14/8/2015, bị Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 0002619/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền. Chấp hành xong ngày 27/8/2015.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 cho đến nay.

  3. Võ Minh H1, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: G tổ E, khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thanh T3 và bà Dương Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Ngày 16/01/2024 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 12/2024/HSST.

    Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam H3 – Bộ C3.

    Các bị cáo vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1980; địa chỉ: C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lưu Thái C2, vắng mặt.
  2. Bà Lý Thanh T1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, Trần Trung N trong khi đi câu cá đến trước căn nhà địa chỉ C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện 01 xe mô tô Vision, biển số 61C1-726.09 của bà Nguyễn Thị Thu T4 đang dựng trước vườn trái cây không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định trên, N đi đến gần chiếc xe mô tô thì thấy trên xe không có chìa khóa nhưng khóa nguồn đã mở sẵn, đèn phía sau đuôi xe đang bật sáng, N dùng tay đề thử thì thấy máy nổ nên đã ngồi lên xe lén lút điều khiển chạy xe mô tô trên về phòng trọ tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, N nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho một người bạn tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) và nhờ bán chiếc xe mô tô Vision trên. Sau đó, L gọi điện cho Võ Minh H1 để hỏi xem có ai mua xe không có giấy tờ không, H1 biết rõ chiếc xe mô tô trên do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tìm người mua để hưởng tiền huê hồng. Lúc này H1 gọi điện cho Lê Minh T2 hỏi có mua xe mô tô không thì T2 trả lời để trực tiếp đến xem xe mới quyết định mua hay không. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, L thông báo cho N có người đồng ý mua lại xe mô tô trên thì N đồng ý bán. Do lo sợ bị phát hiện khi điều khiển xe đi bán nên N đã tháo biển số 61C1-726.09 thay thế bằng chiếc biển số 61F9-1242 (do N nhặt được trên đường để trong phòng trọ trước đó). Sau đó, N điều khiển xe mô tô Vision, gắn biển số 61F9-1242 đến địa chỉ 551/110/22/16 đường L, khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp L, H1. Lúc này H1 gọi điện cho T2 đến xem xe như đã hẹn, T2 nhờ Lưu Thái C2 là thợ phụ sửa chữa xe của T2 chở đến địa chỉ H1 đã hẹn. Tại đây, sau khi kiểm tra chiếc xe mô tô Vision, gắn biển số 61F9-1242, T2 biết chiếc xe không có giấy tờ là do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua chiếc xe với giá 4.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận mua xe xong, T2 lấy 4.000.000 đồng đưa cho L để trả tiền mua xe và cho L số tiền 300.000 đồng tiền môi giới bán xe. Sau đó, T2 điều khiển chiếc xe mô tô vừa mua đi về được khoảng 10m thì bị lực lượng tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện, qua yêu cầu kiểm tra các đối tượng không xuất trình được nguồn gốc chiếc xe mô tô trên nên đưa Trần Trung N, Lê Minh T2, Võ Minh H1, Lưu Thái C2 về trụ sở để làm việc, tại cơ quan Công an các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Riêng đối tượng L bỏ chạy thoát khỏi hiện trường, L chưa đưa lại tiền cho H1 và N. Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật thu giữ trong vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, mang biển số 59G3-216.70, SM: JA39E3046107, SK: RLHJA3921PY430493; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 61F9-1242, SM: JFGGE0105640, SK: RLHJF5813GY105611; 01 (một) biển số 61C1-726.09; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu trắng, số Imei: 35572609764436401 thu giữ của Trần Trung N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Rom, màu xanh, số Imei 1: 864484048581954, số Imei 2: 864484048581947 thu giữ của Võ Minh H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số Imei 1: 353904101464598, số Imei 2: 353904101507875 thu giữ của Lê Minh T2.

Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô Vision, biển số 61C1-726.09 trị giá 18.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 157/CT-VKS-TA ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Trần Trung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Võ Minh H1 và Lê Minh T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Trung N từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù; bị cáo Lê Minh T2 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù; bị cáo Võ Minh H1 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù và tổng hợp hình phạt của Bản án số 12/2024/HSST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu trắng thu giữ của bị cáo Trần Trung N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Rom, màu xanh thu giữ của bị cáo Võ Minh H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen thu giữ của bị cáo Lê Minh T2, quá trình điều tra xác định các bị cáo sử dụng để liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision và 01 chiếc biển số 61C1-726.09, quá trình điều tra xác định, là tài sản thuộc quyền chủ sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe và chiếc biển số trên cho bà Nguyễn Thị Thu T4.

Đối với 01 chiếc biển số 61F9-1242 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, mang biển số 59G2-979.79, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được nguồn gốc nên cần tiếp tục giao cho Công an thành phố T để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.

Đối với Lưu Thái C2 có hành vi sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, mang biển số 59G3-216.70 chở bị cáo T2 đến nhà của bị cáo H1 để T2 xem xe mô tô do bị cáo N bán, quá trình điều tra xác định C2 là thợ phụ sửa chữa xe của bị cáo T2, bị cáo T2 không nói cho C2 biết là xe do phạm tội mà có, C2 có hỏi nhưng T2 chỉ nói mua thêm xe cho vợ đi chợ, C2 không biết các bị cáo trao đổi thông tin mua bán cụ thể như thế nào và cũng không được hưởng lợi ích gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 59G3-216.70, quá trình điều tra xác định là tài sản do Lưu Thái C2 đứng tên chủ sở hữu, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã chiếc xe mô tô trên cho Lưu Thái C2 theo quy định.

Đối với đối tượng tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ), quá trình điều tra bị cáo Nguyên K nhận quen biết trên mạng xã hội, ở khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, L có đặc điểm nhận dạng dáng người cao khoảng 1m60cm, nói giọng miền B, xăm kín 02 cánh tay, N có nói cho L biết chiếc xe mô tô trên do bị cáo N phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tìm người mua để hưởng tiền huê hồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa xác định được lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông tin tội phạm đến Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục xác minh xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, bị hại xác định đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Trong quá trình điều tra và theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị cáo thống nhất với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An về tội danh, điều, khoản truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Trung N, Lê Minh T2 và Võ Minh H1 thành khẩn khai báo, thống nhất với tội danh, điều khoản bị truy tố. Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án các bị cáo N, T2, H1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, việc các bị cáo xin xét xử vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với quy định tại Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Trong quá trình điều tra và theo đơn vắng mặt, các bị cáo Trần Trung N, Võ Minh H1 và Lê Minh T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của nhau, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trần Trung N có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 61C1-726.09 trị giá 18.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thu T4.

Mặt khác, vào khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày 11/9/2023, tại khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Võ Minh H1, Lê Minh T2 biết rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 61C1-726.09 là tài sản do Trần Trung N phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để tiêu thụ với số tiền 4.000.000 đồng. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Trung N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Lê Minh T2 và Võ Minh H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo với tội danh, điều, khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo N nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo H1 và T2 nhận thức được hành vi biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có mà vẫn đồng ý tiêu thụ nhằm mục đích thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi của các bị cáo cũng là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản ngày càng tăng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương; đồng thời, bị cáo T2, H1 có nhân thân xấu. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Mặt khác, bị cáo Võ Minh H1 đã bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 12/2024/HSST ngày 16/01/2024 đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Võ Minh H1 theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về đồng phạm: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không có tình tiết tăng nặng.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trần Trung N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là nghiêm khắc so với tính chất mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo Trần Trung N, Lê Minh T2 đã bị tạm giữ, tạm giam đến thời điểm xét xử là 14 tháng 08 ngày. Do đó, Hội đồng xét xử xét xét thấy xử phạt các bị cáo N và T2 bằng thời hạn tạm giam cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu trắng thu giữ của bị cáo Trần Trung N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Rom, màu xanh thu giữ của bị cáo Võ Minh H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen thu giữ của bị cáo Lê Minh T2, các bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, mang biển số 59G2-979.79, số máy CT1QOE1147137, số khung không có thu giữ của bị cáo Võ Minh H1 hiện chưa xác định được nguồn gốc của chiếc xe nên tiếp tục giao cho Công an thành phố T để xử lý theo quy định.

Đối với 01 biển số 61F9-1242 do N gắn vào chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision được cấp cho ông Nguyễn Huy T5 hiện chưa làm rõ được nguồn gốc chiếc biển số trên nên tiếp tục giao chiếc biển số trên cho Công an thành phố T để xử lý theo quy định.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision và 01 chiếc biển số 61C1-726.09, quá trình điều tra xác định, là tài sản thuộc quyền chủ sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe và chiếc biển số trên cho bà Nguyễn Thị Thu T4.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 59G3-216.70 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lưu Thái C2, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã chiếc xe mô tô trên cho ông Lưu Thái C2.

[10]. Đối với Lưu Thái C2 có hành vi sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, mang biển số 59G3-216.70 chở bị cáo T2 đến nhà của bị cáo H1 để T2 xem xe mô tô do bị cáo N bán nhưng C2 không biết T2 mua xe do phạm tội mà có và cũng không được hưởng lợi ích gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ.

[11]. Đối với số tiền 4.000.000 đồng Lê Minh T2 đưa cho L để trả tiền mua cho Trần Trung N nhưng L chưa đưa và không thu giữ được nên không đề cập xem xét, xử lý.

[12]. Đối với người tên L Cơ quan cảnh sát điều tra hiện chưa xác được nhân thân, lai lịch. Khi nào xác định được sẽ xem xét, xử lý sau.

[13]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Trung N.
  • - Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Minh T2.
  • - Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Minh H1.
  • - Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106; Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T2, Võ Minh H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Xử phạt bị cáo Trần Trung N 01 năm 02 tháng 08 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.

    Xử phạt bị cáo Lê Minh T2 01 năm 02 tháng 08 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.

    Xử phạt bị cáo Võ Minh H1 01 năm 02 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 12/2024/HSST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo Lê Minh H2 phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2023.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho các bị cáo Trần Trung N và Lê Minh T2 nếu bị cáo N và T2 không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu trắng, số Imei: 35572609764436401; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Rom, màu xanh, số Imei 1 : 864484048581954, số Imei 2: 864484048581947; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số Imei: 353904101464598, số Imei 2: 353904101507875.

    - Giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, mang biển số 59G2-979.79, số máy CT1QOE1147137, số khung không có (xe có 01 kiếng, không có chìa khóa); 01 chiếc biển số 61F9-1242 cho Công an thành phố T để xử lý theo quy định.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 05/6/2024 và 18/11/2024).

  3. Về án phí:

    Mỗi bị cáo Trần Trung N, Võ Minh H1, Lê Minh T2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc K1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 317/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 317/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung N cùng dp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger