|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số:317/2025/DS-PT Ngày 18 tháng 11 năm 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng, Ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 248/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025; tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện An Phú (nay Toà án nhân dân khu vực 15 – An Giang) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 265/2025/QĐXX-PT ngày 13 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1; địa chỉ: số A T, phường H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B, chức vụ: Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C1.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Châu T, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh C2, Phòng G; địa chỉ: H, ấp A, xã A, huyện A, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Đồng bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; cùng cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay Tổ B, ấp P, xã N, tỉnh An Giang).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M (chết năm 2023) gồm:
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1941;
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964;
- Bà Trần Thị Bé T2, sinh năm 1989;
- Ông Trần Chí T3, sinh ngày 1993;
- Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1 là ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1980; địa chỉ: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo hợp đồng ủy quyền ngày 28/12/2023 tại Ủy ban nhân dân xã P. (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty cổ phần C1. Địa chỉ: Tầng A, A Tòa nhà A Đ, quận B, thành phố Hà Nội (Nay phường B, TP Hà Nội)
Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần C1: Ông Trần Bình D và Bà Lê Kim T4 chuyên viên Ban pháp chế và chuyên viên bồi thường con người Văn phòng M3, Ban bồi thường tổng Công ty cổ phần C1 (theo văn bản ủy quyền số 3247/UQ-VBI10 ngày 22/10/2025) (có mặt).
Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị T1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, đại diện Ngân hàng trình bày:
Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh C2 - Phòng G và ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 đã ký kết hợp đồng cho vay hạn mức số 337/2022-HĐCVHM/NHCT742-AP ngày 27 tháng 09 năm 2022 để vay số tiền 120.000.000 đồng, mục đích vay vốn là trồng xoài. Số tiền đã giải ngân: 120.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 1461 - lần 1 ngày 27/09/2022.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng phát sinh theo hợp đồng vay nói trên, ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 2057, tờ bản đồ số 3, địa chỉ: xã P, huyện A, An Giang với diện tích: 3.207m². theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 580746; Số vào số cấp GCN CH01335 do UBND huyện A cấp ngày 01/08/2013 cho ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 337/2022/HĐBĐ/NHCT742-AP ký ngày 26/09/2022 đã được chứng thực theo số chứng thực 872/VTC, quyển số 01/22 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/09/2022 của Văn phòng C3 và đã được Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất - Chi Nhánh A, tỉnh An Giang chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản theo hồ sơ số 004511.TC.009 ngày 26/09/2022.
Kể từ ngày 27/09/2023, ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 đã thanh toán không đầy đủ nợ gốc, lãi đến hạn cho Ngân hàng theo đúng thỏa thuận tại giấy nhận nợ và hợp đồng cho vay đã ký. Tổng số tiền còn nợ Ngân hàng (tạm tính đến hết ngày 20/10/2023) là:122.177.811 đồng, trong đó: Nợ gốc: 120.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 925.497 đồng; Nợ lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 1.252.314 đồng (Chưa tính các khoản lãi phát sinh sau ngày 20/10/2023 cho đến khi trả hết nợ).
Từ khi khoản nợ của ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 chuyển quá hạn từ ngày 27/09/2023, Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh C2 - Phòng G đã nhiều lần yêu cầu bên vay bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và yêu cầu phối hợp, hợp tác trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp đến hạn mà bên vay không thực hiện được việc thanh toán toàn bộ khoản nợ với Ngân hàng TMCP C1, bao gồm thông báo, biên bản làm việc về việc chuyển nợ quá hạn và xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, ông Trần Văn M cùng bà Nguyễn Thị T1 không hợp tác với Ngân hàng TMCP C1 trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp đã ký.
Nay yêu cầu bà T1 và N, T2, T3 phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền 122.177.811 đồng, trong đó: Nợ gốc: 120.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 925.497 đồng; Nợ lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 1.252.314 đồng (tính đến ngày 20/10/2023 và tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ) và tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông M, bà T1.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 (đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Ngọc C) trình bày: Thừa nhận là ông M, bà T1 vay tiền như lời trình bày của Ngân hàng và trong quá trình vay tiền của Ngân hàng ông M, bà T1 có ký hợp đồng với Tổng Công ty cổ phần C1. Đồng thời có yêu cầu phản tố đối với Ngân hàng và yêu cầu độc lập đối với Tổng Công ty cổ phần C1 cụ thể như sau:
Vợ chồng bà T1 và ông M: Trần Văn M, sinh năm: 1964, chết ngày: 21/7/2023 có vay của Ngân hàng C1 số tiền 120 triệu đồng năm 2022, vợ chồng bà T1, ông M có tham gia bảo hiểm của Tổng Công ty cổ phần C1 với mức trách nhiệm 100 triệu đồng và tiền trợ cấp mai táng 5 triệu đồng.
Chiều ngày 21/7/2023 ông M bị mệt tại nhà, người nhà điện thoại xe cấp cứu của Trung tâm y tế xã P để đưa vào Bệnh viện. Khi xe cấp cứu đến nhà thì ông M đã chết, cán bộ y tế xã cũng có xem và sơ cứu nhưng không cứu được, ông M chết do đột quỵ, gia đình không đưa vào Bệnh viện. Bà T1 đã thông báo cho Ngân hàng và bảo hiểm của Ngân hàng biết sự việc, sau đó phía Ngân hàng và bảo hiểm có đến xác minh thu thập hồ sơ để chi trả tiền bảo hiểm (theo hợp đồng bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm cho Ngân hàng số tiền bảo hiểm mà bà T1, ông M tham gia). Việc tham gia bảo hiểm được thực hiện tại Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh A1, Phòng giao dịch huyện G thông qua giao dịch viên của Ngân hàng C1.
Đến nay, phía Công ty C1 chưa chi trả tiền bảo hiểm là vi phạm hợp đồng bảo hiểm với bà T1, ông M gây thiệt hại cho bà T1 và các đồng thừa kế của ông M. Nay buộc Tổng Công ty cổ phần C1 và Ngân hàng TMCP C1 có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường bảo hiểm số tiền 100 triệu, chi phí hỗ trợ mai táng 5 triệu đồng trả cho Ngân hàng và buộc phía bảo hiểm bồi thường tiền chậm trả tiền bảo hiểm, tiền lãi (tính từ ngày thụ lý ngày 13/11/2023) và lãi phạt đối với số tiền vốn gốc 105.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty cổ phần C1 (gọi tắt là VBI), có bà Lê Kim T4 đại diện trình bày:
Ngày 27/9/2022, ông Trần Văn M đã yêu cầu tham gia bảo hiểm sức khỏe Tín dụng Bình An tại VBI theo Giấy yêu cầu bảo hiểm số GYC/0210220558686. Theo yêu cầu này, VBI đã cấp Giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm sức khỏe tín dụng B (“GCNBH") số 0210220558686 ngày 27/9/2022 cho ông Trần Văn M với điều kiện, điều khoản bảo hiểm theo Quy tắc bảo hiểm sức khỏe T6, ban hành theo quyết định số 2979/QĐ-VBI6 ngày 14/12/2021 của Tổng giám đốc VBI ("Quy tắc bảo hiểm"), thời hạn bảo hiểm từ 11h10 ngày 27/9/2022 đến 11h10 ngày 27/9/2023.
Sau khi nhận được thông tin về trường hợp ông Trần Văn M đã tử vong vào ngày 21/7/2023. VBI đã hướng dẫn gia đình ông M thu thập, hoàn thiện và cung cấp hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm (bao gồm các hồ sơ y tế liên quan đến nguyên nhân tử vong của ông M). Theo thông tin gia đình ông M cung cấp, ông M tử vong tại nhà, không đến các cơ sở y tế và không có chứng từ y tế tại thời điểm tử vong. Do đó, VBI đã gửi văn bản đến Trạm y tế xã P, Trung tâm y tế huyện A và Công an xã P để thu thập tài liệu về trường hợp tử vong của ông Trần Văn M. Theo các thông tin phản hồi từ các cơ quan này, chiều ngày 21/7/2023 gia đình ông M có mượn bình oxy của Trạm y tế xã P, tuy nhiên khi Trạm y tế xã P mang bình oxy đến nhà ông M thì ông M1 đã tử vong. Ngoài ra, ông Trần Văn M không đến Trung tâm y tế huyện A khám bệnh vào ngày 21/7/2023 và Công an xã P không tiếp nhận hồ sơ của ông Trần Văn M (theo thông tin Trạm y tế xã P cung cấp, phản hồi trực tiếp tại Công văn số 598/CV-VPMN ngày 08/8/2023, Công an xã P cung cấp, phản hồi trực tiếp tại Công văn số 599/CV-VPMN ngày 08/8/2023 và Công văn số 146/CV-TTYT ngày 29/8/2023 của Trung tâm y tế huyện A).
Theo điểm a khoản 2.8 Điều 6 Quy tắc bảo hiểm sức khỏe tín dụng Bình An ban hành theo Quyết định số 2979/QĐ-VB16 ngày 14/12/2021 của VBI đã được Bộ T7 phê duyệt, quy định:
"2.8 Quyền lợi bảo hiểm Tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân (BS 08);
a) Phạm vi, quyền lợi bảo hiểm
Trừ những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định tại Điều 7 Quy tắc bảo hiểm này, trường hợp cơ quan y tế, cơ quan công an, cơ quan chức năng có thẩm quyền khác, đồng thời VBI không xác định được nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm, VBI chỉ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm được quy định cụ thể tại từng hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Sau khi xem xét, đánh giá hồ sơ do gia đình ông M cung cấp và các tài liệu mà VBI thu thập được, căn cứ thỏa thuận tại GCNBH, Quy tắc bảo hiểm sức khỏe tín dụng B, VBI xác định trường hợp tử vong của ông M được chi trả theo quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân theo Mục 1.3 phần Quyền lợi bảo hiểm tại GCNBH.
Theo đó, ngày 11/9/2023, VBI đã thông báo đến gia đình ông M và Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh C2 (Người thụ hưởng đầu tiên theo GCNBH) về phương án bồi thường của VBI với tổng số tiền bồi thường bảo hiểm là 55.000.000 đồng, bao gồm: quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân là 50.000.000 đồng và trợ cấp mai táng phí là 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, gia đình ông M không đồng ý với phương án bồi thường trên của VBI vì cho rằng ông M tử vong vì bị bệnh cảm nên đề nghị VBI chi trả theo quyền lợi tử vong do bệnh. Đến ngày 13/9/2023, VBI đã hướng dẫn gia đình cung cấp thêm các chứng từ liên quan đối với trường hợp tử vong do bệnh nhưng đến nay chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi, tài liệu bổ sung nào từ gia đình ông M.
Nay, không đồng ý đối với yêu cầu độc lập và yêu cầu phản tố của bà T1, chỉ đồng ý chi trả tiền bảo hiểm 50.000.000 đồng và 5.000.000 đồng chi phí mai táng.
Ngày 06/6/2024, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ phần đất thế chấp: Đã xác định phần đất ông M, bà T1 thế chấp cho Ngân hàng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 580746 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 01/8/2013 có diện tích 3207m² mang tên Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T1; hiện bà T1 vẫn đang sử dụng và trồng X và M2.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 21/3/2025 của của Tòa án nhân dân huyện An Phú (nay Toà án nhân dân khu vực 15 – An Giang), đã xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 228, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 688 Bộ luật Dân sự; Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Căn cứ Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C1 về việc buộc đồng bị đơn trả lãi phạt chậm trả số tiền 412.291 (Bốn trăm mười hai nghìn, hai trăm chín mươi mốt) đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C1.
Buộc bà Nguyễn Thị T1 và người thừa kế quyền và nghĩa vụ ông Trần Văn M là bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 148.958.426 (Một trăm bốn mươi tám triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày 21/3/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và người thừa kế quyền và nghĩa vụ ông Trần Văn M là bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 còn phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức số 337/2022-HĐCVHM/NHCT742-AP ngày 27 tháng 09 năm 2022 giữa ông M, bà T1 với Ngân hàng trên dư nợ gốc còn lại cho đến khi trả dứt nợ.
Duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 337/2022/HĐBĐ/NHCT742-AP ký ngày 26/09/2022 để đảm bảo thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T1:
Buộc Tổng Công ty cổ phần C1 (VBI) có trách nhiệm chi trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 62.421.728 (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn) đồng.
Khấu trừ 62.421.728 (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi tám) đồng vào tiền vốn gốc và lãi suất 148.958.426 (Một trăm bốn mươi tám triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi sáu) đồng. Còn lại 86.536.698 (T5 mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm chín mươi tám) đồng bà Nguyễn Thị T1 và kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M gồm bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 phải trả cho N1.
Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 đối với số tiền 50.000.000 đồng yêu cầu Ngân hàng TMCP C1 và Tổng Công ty cổ phần C1 phải có trách nhiệm liên đới trả.
Các đồng thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn M là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M theo nội dung quyết định của bản án, chỉ thực hiện nghĩa vụ của ông Trần Văn M trong phạm vi di sản của ông Trần Văn M để lại trong giai đoạn thi hành bản án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, thời gian thi hành án có hiệu lực.
Ngày 26/4/2025, bị đơn Nguyễn Thị T1 kháng cáo yêu cầu xem xét sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn buộc Ngân hàng C1 và Tổng Công ty cổ phần C1 liên đới bồi thường số tiền 50.000.000đ; không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc bà T1 và người thừa kế trả cho Ngân hàng số tiền 148.958.426đ; không duy trì hợp đồng thế tài sản số 337/2022/ ngày 26/9/2022.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn Nguyễn Thị T1 do người đại diện theo ủy quyền thay đổi yêu cầu kháng cáo chỉ yêu cầu xem xét sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn buộc Ngân hàng C1 và Tổng Công ty cổ phần C1 liên đới bồi thường số tiền 50.000.000đ, các nội dung còn lại xin rút không kháng cáo;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; tại phiên tòa phúc thẩm ông C đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút kháng cáo đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc bà T1 và người thừa kế trả cho Ngân hàng số tiền 148.957.826đ; không duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 337/2022 ngày 26/9/2022; phần rút kháng cáo này đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị T1 nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1 xin rút lại một phần nội dung kháng cáo là không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc bà T1 và người thừa kế trả cho Ngân hàng số tiền 148.958.426đ; không duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 337/2022/ ngày 26/9/2022. Xét thấy đây là tự nguyện của người kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử đối với nội dung kháng cáo này; chỉ xem xét buộc Tổng Công ty cổ phần C1 trả thêm số tiền 50.000.000đ;
[3] Xét yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập, cũng như yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm của bà Nguyễn Thị T1:
Bà Nguyễn Thị T1 có yêu cầu Ngân hàng TMCP C1 và Tổng Công ty cổ phần C1 có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường bảo hiểm với số tiền 100 triệu, chi phí hỗ trợ mai táng 5 triệu đồng và buộc phía bảo hiểm bồi thường tiền chậm trả tiền bảo hiểm (tiền lãi, lãi phạt đối với số tiền phải trả 105.000.000 đồng) vì cho rằng ông M tử vong do bị bệnh nên đề nghị VBI chi trả theo quyền lợi tử vong do bệnh.
Đại diện cho Tổng Công ty cổ phần C1 cho rằng trường hợp tử vong của ông M được chi trả theo quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân theo Mục 1.3 phần Quyền lợi bảo hiểm tại giấy chứng nhận bảo hiểm nên chỉ đồng ý chi trả tiền bảo hiểm 55.000.000 đồng, bao gồm: quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân là 50.000.000 đồng và trợ cấp mai táng phí là 5.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện và cho đến thời điểm hiện nay, bên phía bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ ông Trần Văn M vẫn không cung cấp được các chứng từ liên quan đối với trường hợp tử vong do bệnh của ông M. Như vậy, căn cứ vào Giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm sức khỏe tín dụng B (“GCNBH") số 0210220558686 ngày 27/9/2022 cấp cho ông Trần Văn M; Quy tắc bảo hiểm sức khỏe Tín Dụng B, ban hành theo quyết định số 2979/QĐ-VBI6 ngày 14/12/2021 của Tổng giám đốc VBI ("Quy tắc bảo hiểm"), cùng các chứng từ có trong hồ sơ, có thể xác định ông M tử vong trong trường hợp không xác định được nguyên nhân.
Theo điểm a khoản 2.8 Điều 6 Quy tắc bảo hiểm sức khỏe tín dụng Bình An ban hành theo Quyết định số 2979/QĐ-VB16 ngày 14/12/2021 của VBI đã được Bộ T7 phê duyệt, quy định:
"2.8 Quyền lợi bảo hiểm Tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân (BS 08);
a) Phạm vi, quyền lợi bảo hiểm
Trừ những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định tại Điều 7 Quy tắc bảo hiểm này, trường hợp cơ quan y tế, cơ quan công an, cơ quan chức năng có thẩm quyền khác, đồng thời VBI không xác định được nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm, VBI chỉ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm được quy định cụ thể tại từng hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Sau khi xem xét, đánh giá hồ sơ do gia đình ông M cung cấp và các tài liệu mà VBI thu thập được, căn cứ thỏa thuận tại GCNBH, Quy tắc bảo hiểm sức khỏe tín dụng B, VBI xác định trường hợp tử vong của ông M được chi trả theo quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân theo Mục 1.3 phần Quyền lợi bảo hiểm tại GCNBH.
Theo đó, ngày 11/9/2023, VBI đã thông báo đến gia đình ông M và Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh C2 (Người thụ hưởng đầu tiên theo GCNBH) về phương án bồi thường của VBI với tổng số tiền bồi thường bảo hiểm là 55.000.000 đồng, bao gồm: quyền lợi bảo hiểm tử vong trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không xác định được nguyên nhân là 50.000.000 đồng và trợ cấp mai táng phí là 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, gia đình ông M không đồng ý với phương án bồi thường trên của VBI vì cho rằng ông M tử vong vì bị bệnh cảm nên đề nghị VBI chi trả theo quyền lợi tử vong do bệnh. Đến ngày 13/9/2023, VBI đã hướng dẫn gia đình cung cấp thêm các chứng từ liên quan đối với trường hợp tử vong do bệnh nhưng đến nay chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi, tài liệu bổ sung nào từ gia đình ông M.
Do đó, căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên về hợp đồng bảo hiểm nên cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà T1, buộc Tổng Công ty cổ phần C1 (VBI) có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho bên thụ hưởng theo hợp đồng là Ngân hàng TMCP C1 gồm: 50.000.000 đồng quyền lợi tử vong và chi phí hỗ trợ mai táng 5.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định “Quy tắc và biểu phí bảo hiểm sức khỏe Tín dụng B” và “Giấy yêu cầu bảo hiểm người vay vốn” do ông Trần Văn M mua bảo hiểm đã ký.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 không cung cấp chứng cứ mới làm phát sinh tình tiết mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 như đề nghị của Viện kiểm sát.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 2 Điều 289; Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 đối với việc không đồng ý buộc bà T1 và người thừa kế trả cho Ngân hàng số tiền 148.958.426 đồng; không đồng ý duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 337/2022/HĐBĐ/NHCT742-AP ngày 26/9/2022.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1;
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DSST ngày 21/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang)
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc bà Nguyễn Thị T1 và người thừa kế quyền và nghĩa vụ ông Trần Văn M là bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 148.958.426 (Một trăm bốn mươi tám triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi sáu) đồng.
- Kể từ ngày 21/3/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và người thừa kế quyền và nghĩa vụ ông Trần Văn M là bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 còn phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức số 337/2022-HĐCVHM/NHCT742-AP ngày 27 tháng 09 năm 2022 giữa ông M, bà T1 với Ngân hàng trên dư nợ gốc còn lại cho đến khi trả dứt nợ.
- Duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 337/2022/HĐBĐ/NHCT742-AP ký ngày 26/09/2022 để đảm bảo thi hành án.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T1:
- Buộc Tổng Công ty cổ phần C1 (VBI) có trách nhiệm chi trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 62.421.728 (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi tám) đồng.
- Khấu trừ 62.421.728 (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi tám) đồng vào tiền vốn gốc và lãi suất 148.958.426 (Một trăm bốn mươi tám triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi sáu) đồng. Còn lại 86.536.698 (T5 mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm chín mươi tám) đồng bà Nguyễn Thị T1 và kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M gồm bà Phạm Thị N, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Chí T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP C1.
- Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 đối với số tiền 50.000.000 đồng yêu cầu Ngân hàng TMCP C1 và Tổng Công ty cổ phần C1 phải có trách nhiệm liên đới trả.
- Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm 38/2025/DSST ngày 21/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang) không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010511 ngày 06/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang (do ông Nguyễn Ngọc C nộp thay đã nộp xong).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 317/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 317/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kiện ông M và bà Th trả tiền vay.
