|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 317/2025/DS-PT Ngày 16 - 6 - 2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Phú Thọ. |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Hồng Nước |
| Bà Phạm Thị Liên Hiệp |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị
Được, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 404/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 258/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 333/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa phúc thẩm số: 284/TB-TA, ngày 02 tháng 6 năm 202, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số E, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn D: Anh Nguyễn Thanh Tân S năm: 1994; Địa chỉ thường trú: Số F, khóm L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên hệ: Số I, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo Văn bản ủy quyền ngày 22/08/2024).
* Bị đơn:
1. Bà Lê Thị S1, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Số E, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Số G, đường F, khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
1
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1: Anh Đinh Công B, sinh năm: 1970;
Địa chỉ: Số E, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/6/2023 và ngày 28/12/2023).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị S1: Anh Trần Văn N1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 28/10/2024).
* Người kháng cáo: Bà Lê Thị S1 và anh Nguyễn Thành N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của nguyên đơn ông Lê Văn D, người đại diện theo ủy quyền của ông D là anh Nguyễn Thanh T thống nhất trình bày:
Ông Lê Văn D đang quản lý sử dụng diện tích khoảng 2.000m² (hiện nay qua đo đạc thực tế chỉ còn lại 727,3m² và 189,8m² đang tranh chấp) do ông bà để lại, tại thửa 33, tờ bản đồ số 7a, địa chỉ thửa đất tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Do trước đây đất thuộc diện bị sạt lở nên toàn bộ diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giáp với thửa đất của ông D là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7a, hiện nay do ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1 cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh giới giữa hai thửa đất có một cái hầm do cha của ông D là cụ Lê Văn X (B) đào từ khoảng năm 1968 để nuôi cá và làm cầu cá để đi vệ sinh. Đến năm 2000, do nước lũ dâng cao cá đi hết nên gia đình ông D không nuôi cá nữa mà dùng để làm chỗ thoát nước sinh hoạt cho gia đình. Đến năm 2003, ông Đinh Công C là chồng của bà Lê Thị S1 có mượn đỡ ông D cái hầm nuôi cá làm thức ăn hàng ngày, do không còn nuôi cá nên ông D đồng ý, việc cho mượn không có làm giấy tờ gì. Cái hầm do cha của ông D đào có những người sống gần đất biết như ông Nguyễn Văn C1 (S) và bà Lê Thị Hồng C2 biết rõ. Đến năm 2021, ông D làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cán bộ đo đạc đến đo đạc thì bà S1 không chỉ ranh đất của bà S1 đến đâu và không chịu ký giáp ranh nên cán bộ đo đạc đất không đo đạc để xác định của ông D có diện tích là bao nhiêu nên ông D không làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Ông D có làm đơn nhờ Ban H2 để bà S1 ký tên giáp ranh cho ông D làm giấy đất. Tại buổi hòa giải ngày 12/02/2022, bà S1 trình bày để bà S1 về bàn lại với gia đình mới ký tên hay không trong thời hạn là 01 tháng. Ngày 20/3/2022, Ban nhân dân ấp tiếp tục mời bà S1 và ông N đến hòa giải việc ký tên cho ông D nhưng bà S1 vắng mặt. Ngày 25/3/2022, Ban H2 tiếp tục mời bà S1 và ông N đến hòa giải, tại buổi hòa giải anh Đinh Công B là người đại diện theo ủy quyền của bà S1 trình bày phần đất của bà S1 đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận nên không đồng ý ký tên giáp ranh cho ông D. Ông D làm đơn gửi đến UBND xã M để giải quyết tranh chấp ranh đất nhưng cả 02 lần bà S1 hay người đại diện cho bà S1
2
đều không có mặt.
Nay ông D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà S1 và ông N phải có nghĩa vụ trả lại toàn bộ cái hầm có diện tích theo đo đạc thực tế là 189,8m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/8/2023 là của ông D và xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 33 của ông D chưa được cấp giấy với thửa đất số 34 của bà S1 và ông N là tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5. Đối với phần diện tích đất 45,6m² trong phạm vi các mốc M1, M9, M10, M11 về M1 là phần đất thuộc một phần đất của Tỉnh lộ 848 do Nhà nước quản lý thì ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông D đồng ý để cho gia đình bà S1 một lối đi ra lộ là 4,1m x 1,48m giáp với đất của bà H, nhưng yêu cầu phía gia đình bà S1 phải trả giá trị đất theo giá mà Hội đồng định giá đã định.
Về Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S1, ông N thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7a trong đó tờ biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 08/8/2008 thể hiện khi đo đạc có ông Lê Văn D chứng kiến và ký tên vào biên bản. Tuy nhiên, ông D khẳng định khi ông D chứng kiến việc đo đạc và xác định ranh giới giữa hai thửa đất thì ông D xác định ranh giới giữa hai thửa đất là từ mí hầm giáp đất bà S1, toàn bộ cái hầm tranh chấp là của ông D nhưng khi cấp giấy Cơ quan cấp giấy có cấp trùm luôn cái hầm của ông D hay không thì ông D không biết vì khi đo đạc cán bộ đo đạc hỏi ranh đất giữa hai bên ở đâu thì ông D nói toàn bộ cái hầm là của ông D và cán bộ đo đạc cũng không có cắm mốc ranh (không có cắm trụ đã xác định) và khi đo xong cán bộ đo đạc kêu ông D ký giáp ranh thì ông D ký để xác định thửa đất của bà S1, ông N là giáp với ông D và toàn bộ cái hầm là của ông D.
2. Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1 do anh Đinh Công B đại diện ủy quyền trình bày: Vào ngày 17/02/2009, ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7a, có diện tích là 2.436m², trong đó có 300m² là đất ở tại nông thôn và 2.136m² là đất trồng cây lâu năm (nay đo đạc thực tế chỉ còn lại là 1.771m² và 189,8m² đang tranh chấp), đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Nguồn gốc đất được cha mẹ để lại trong đó có cái hầm hiện nay đang tranh chấp và hiện nay gia đình anh B đang thả cá nuôi (thả cá tạp đê ăn chứ không có bán) và cho phía gia đình ông D chỉ sử dụng để xả nước thải sinh hoạt. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và bà S1 là đúng quy định của pháp luật. Khi cấp giấy có đo đạc và những hộ giáp ranh có ký tên xác nhận ranh đất trong đó có ông Lê Văn D ký tên xác nhận.
Nay ông N, bà S1 không đồng ý theo như yêu cầu của ông D vì ông N và bà S1 không lấn đất của ông D và đất của bà S1 và ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND Huyện cấp cho bà S1 và ông N có diện tích là 2.436m², đo đạc thực tế là 1.771m² không tính phần tranh chấp là thiếu 665m², cộng với 189,8m² đang tranh chấp tổng cộng là 1.960,8m² so với giấy
3
chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì thiếu 475,2m² nên toàn bộ cái hầm tranh chấp là thuộc phần đất được cấp giấy cho ông N và S1. Ông N, bà S1 yêu cầu Toà án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông N, bà S2 thuộc thửa đất số 34 và đất của ông D thuộc thửa đất số 33 là nối các mốc M6, M7, M8, M9 theo sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Đối với phần diện tích đất 45,6m² trong phạm vi các mốc M1, M9, M10, M11 về M1 là phần đất thuộc một phần đất của Tỉnh lộ 848 thì ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính đối với thửa đất đang tranh chấp ranh hiện nay bà Lê Thị S1 đang giữ.
Việc hình thể của thửa đất số 34 của được thể hiện tại mục V – Sơ đồ đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với hình thể thực tế theo sơ đồ đo đạc hiện nay không giống nhau thì do phần đất của bà S1 và ông N khi được cấp giấy chứng nhận vào 17/02/2009 có tứ cận, cạnh một giáp đường ĐT 848, cạnh 2 giáp đất bà Lê Thị H và ông Bảy Đ (Đặng Văn Đ1), sau này ông Đ1 bán cho bà Nguyễn Thị H1, cạnh 3 giáp Sông T, cạnh 4 giáp đất ông Lê Quang S3 và đất của ông Lê Văn D. Tuy nhiên, phía giáp đất bà Lê Thị H trước đây có con mương lạng, quá trình sử dụng bà H có cất nhà lấn qua đất của bà S1, ông N nên hai bên có xảy ra tranh chấp, sự việc được Ban H2 hòa giải thành nên hai bên đã xác định lại ranh đất với nhau nên phía giáp đất bà H thì hiện trạng ranh đã thay đổi do hai bên thỏa thuận lại ranh. Phía giáp Sông T thừa nhận đất của bà S1 có bị sạt lở nhưng anh B không biết bị sạt lở là bao nhiêu mét vuông và khi nhà nước làm bờ kè chống sạt lở, Nhà nước vận động gia đình hiến đất để làm bờ kè, không có bồi thường nên không đo đạc phần đất nhà nước lấy làm bờ kè nên anh B cũng không biết diện tích đất đã hiến làm bờ kè là bao nhiêu. Đối với phía giáp đất ông S3 là phần chữ L hiện nay hiện trạng không còn thì anh B cũng không biết tại sao. Đối với phần giáp đất ông Lê Văn D đang tranh chấp thì hiện trạng cái hầm hiện nay vẫn còn. Toàn bộ cái hầm là thuộc về đất của bà S1 và ông D, cái hầm này hiện nay mẹ đang thả cá để nuôi.
Đối với cái hầm đang tranh chấp thì sau năm 1975, cha mẹ của anh B là Lê Thị S1, cha Đinh Công C (chết khoảng mười mấy năm không nhớ) từ S về được cha mẹ cho diện tích đất này để sử dụng, khi sử dụng thì đã có sẵn cái hầm không biết ai đào nhưng nghe nói cái hầm này đã có từ xa xưa nhưng thuộc phần đất của ông bà của anh B. Sau khi sử dụng thì cha mẹ có thả cá trong cái hầm này để nuôi nhằm để bắt cá lên ăn chứ không phải nuôi để bán, việc này có ông L trước đây ở phía sau phần đất của ông Đ1 (nay đã bị sạt lỡ hết) biết rõ.
Đối với số cá nuôi trong hầm thì do thả rất nhiều loại cá không xác định được số lượng và loại cá nên anh B thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định. Trường hợp Tòa án xử xác định cái hầm là của ông D thì gia đình bà S1 sẽ tự nguyện di dời toàn bộ cá ở trong hầm để giao đất cho ông D nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4
* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D.
- Xác định diện tích đất 148,6m² trong phạm vi các mốc M4, M5, M6,
M7, M8, M9, M27 về M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 22 tháng 7 năm 2024 của
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L là thuộc thửa đất số 33, tờ bản
đồ số 7a, đất tọa lạc tại xã M thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Lê Văn D.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 33 tờ bản đồ số 7a hiện nay ông D đang sử dụng với thửa số 34, tờ bản đồ số 74 của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là các đoạn thẳng nối các mốc M5 đến mốc M4 và mốc M4 đến mốc M27 theo sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ranh giới được sử dụng theo chiều thẳng đứng từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên (nếu có) lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Các đương sự được miễn tiền tạm ứng án phía và án phí do là người cao tuổi.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Ông Lê Văn D phải chịu số tiền là 1.855.785đ (Một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng). Số tiền này ông D đã nộp và chi xong.
Buộc bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N phải nộp số tiền là 1.855.785đ (Một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng) để trả lại cho ông D.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 8 năm 2024, bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
Bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm 62/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tuyên xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn D.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N
5
trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà có từ trước năm 1945 để lại cho ông Nguyễn Văn T1 đến năm 1975 thì ông T1 để lại cho chị ruột là bà Nguyễn Thị X1 (bà X1 là mẹ ruột của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N) nên khi bà Nguyễn Thị X1 chết đã để lại cho hai chị em là bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N cùng sở hữu đứng tên chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 07a, diện tích 2.436m², mục đích sử dụng 300m² đất ở + đất trồng cây lâu năm 2.136m², đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Qua đo đạc thực tế thì diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ còn lại diện tích 1.771m² nhưng diện tích đang tranh chấp là 189,8m². Phía ông D không có tài liệu chứng cứ chứng cho yêu cầu khởi kiện của mình. Do đó, bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N, tuyên giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Nguồn gốc đất tranh chấp:
- - Người đại diện của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N xác định nguồn gốc đất là của ông bà cha mẹ sử dụng từ trước năm 1975 đến ngày 31/7/2007 thì chị em bà S1, ông N có đơn kê khai và được cấp Giấy CNQSD đất thửa đất số 34, tờ bản đồ số 07a, diện tích 2.436m², mục đích sử dụng 300m² đất ở + đất trồng cây lâu năm 2.136m², đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số (bìa) AO 972354, số vào sổ cấp H 01635, được UBND huyện L cấp ngày 17/02/2009 cho ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1).
- - Người đại diện của nguyên đơn ông Lê Văn D cho rằng toàn bộ diện tích đất tranh chấp 189,8m² là thuộc thửa đất số 33 của ông D (chưa được cấp giấy) có nguồn gốc của cha mẹ để lại sử dụng từ khoảng năm 1968 cho đến
6
năm 2003 thì cho ông Đinh Công C (chồng của bà Lê Thị S1) sử dụng nuôi cá, việc cho mượn hầm nuôi cá chỉ nói miệng.
[3] Về quá trình sử dụng đất: Phía ông D cho rằng phần đất tranh chấp vị trí cái hầm diện tích 148,6m², trong phạm vi các mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M27 trở về M4 là do phía gia đình ông D đào từ khoảng năm 1968 để nuôi cá và làm cầu cá để đi vệ sinh. Đến năm 2000, do nước lũ dâng cao cá đi hết nên gia đình ông D không nuôi cá nữa mà chỉ còn sử dụng để xả nước sinh hoạt của gia đình. Đến năm 2003, ông Đinh Công C (là chồng của bà Lê Thị S1) có mượn ông D cái hầm này để thả cá và được ông D đồng ý, việc ông D cho ông C mượn hầm nuôi cá không có văn bản chứng minh và không được phía bị đơn là bà S1 và ông N thừa nhận. Tuy nhiên, phía gia đình ông D không trực tiếp nuôi cá nhưng vẫn sử dụng cái hầm vào mục đích xả nước sinh hoạt hằng ngày mà phía bà S1, ông N không có ý kiến hay tranh chấp.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy, người đại diện của bị đơn xác định bà S1 và ông N là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 34, tờ bản đồ số 07A có diện tích là 2.436m², nhưng qua đo đạc thực tế diện tích còn lại 1.771m², là thiếu diện tích 665m², nếu cộng với diện tích 189,8m² đang tranh chấp so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì thửa 34 của bà S1, ông N vẫn còn thiếu diện tích 475,2m².
Người đại diện của bị đơn cũng thừa nhận sau khi bà S1, ông N được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/02/2009 đến năm 2012 thì bà S1, ông N có phát sinh tranh chấp với người sử dụng đất liền kề giáp ranh thửa 34 là bà Lê Thị H về phần đất cái mương lạng, quá trình sử dụng bà H có cất nhà lấn qua đất của bà S1, ông N nên hai bên có xảy ra tranh chấp, sự việc được Ban H2 hòa giải thành nên hai bên đã xác định lại ranh đất với nhau. Ngoài ra, người đại diện của bị đơn cũng thừa nhận phần đất thửa 34, tiếp giáp với Sông Tiền quá trình quản lý sử dụng đất có sạt lỡ nhưng bà S1, ông N không biết diện tích đất bị sạt lở là bao nhiêu và khi Nhà nước làm bờ kè chống sạt lở, Nhà nước vận động gia đình hiến đất để làm bờ kè không bồi thường nên không đo đạc do đó cũng không biết đã hiến để làm bờ kè là bao nhiêu.
Mặt khác, người làm chứng ông C1 và bà C2 đều xác định cái hầm tranh chấp được cha của ông D là ông Bảy C3 sử dụng từ trước năm 1969, còn phía ông L cho rằng sau năm 1975 thì mới thấy gia đình của bà X1 sử dụng. Ông C1 còn trình bày năm 2003, ông Đinh Công C có đến nhà của ông C1 nói do cái hầm ông D không nuôi cá nữa nên ông C mượn tiền về mượn cái hầm của ông D để nuôi cá. Người đại diện của bị đơn xác nhận ông C1 là bà con với gia đình bà S1, ông Nhân từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì nên lời trình bày của ông C1.
Ngoài ra, khi ông D làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phía bà S1 không chịu ký giáp ranh, ông D có làm đơn nhờ Ban H2 tiến hành hòa giải về cái hầm. Tại buổi hòa giải ngày 12/02/2022 ông D có ý kiến là “Khi đo đạc lại cái hầm từ ranh đất của ông D 5 tấc trừ hao khi làm
7
mương cho thêm 5 tất sạt lỡ” và bà Lê Thị Hồng C2 là người làm chứng trình bày “Bà C2 biết rõ phần đất này, xác định phần đất là mượn của ông B1 Còn là cha của Lê Văn D”. Phía bà S1 trình bày “Để bà S1 về bàn lại với gia đình mới ký tên hay không”. Sau đó, thì B2 nhân dân ấp và Ủy ban nhân dân xã M nhiều lần nhưng bà S1 không đến. Sự việc ông D yêu cầu bà S1 ký tên giáp ranh để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất nhưng bà S1 không có ý kiến phản bác ý kiến của ông D về cái hầm là của ông D mà bà S1 chỉ xin thời gian để về bàn bạc với gia đình thì mới ký tên giáp ranh như yêu cầu của ông D.
Theo Công văn số 4933/CNVPĐKĐĐHLV-KTĐC ngày 06/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, xác định “Phần diện tích đất tranh chấp thuộc phạm vi các mốc: M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9 về M1 có diện tích 189,8m² thuộc thửa đất số 33 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7a (BL 100). Do đó, bản án sơ thẩm xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 33 của ông D (chưa được cấp giấy) với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7a của bà S1 và ông N là nối các mốc M5 đến M4 và M4 đến M27 là có cơ sở chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại phiên tòa các nguyên, bị đơn đều thừa nhận phần diện tích đất đang tranh chấp giữa ông D với bà S1, ông N thuộc thửa số 33 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và thuộc thửa số 34 đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S1 và ông N (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số (bìa) AO 972354, số vào sổ cấp H 01635, được UBND huyện L cấp ngày 17/02/2009 cho ông Nguyễn Thành N và bà Lê Thị S1), phần đất tranh chấp được thể hiện như sau:
- + Đối với phần đất tranh chấp vị trí hầm cá diện tích 148,6m² được thể hiện trong phạm vi các mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M27 trở về M4 và phần đất tranh chấp diện tích 41,2m² được thể hiện trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M27 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L).
- + Đối với phần đất tranh chấp diện tích 45,6m² được thể hiện trong phạm vi các mốc M1, M27, M9, M10, M11 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L) thuộc phạm vi đất Tỉnh lộ 848 do Nhà nước quản lý nên các đương sự thống nhất là không tranh chấp.
Xét kháng cáo của bà S1, ông N cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện L cấp bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N tại thửa 34, tờ bản đồ số 07A có diện tích là 2.436m², qua đo đạc thực tế diện tích còn lại là 1.771m², thiếu 665m², nếu cộng diện tích 189,8m² đang tranh chấp lại thì so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì bà S1, ông N vẫn còn thiếu 475,2m². Tuy nhiên, theo Công văn số
8
37/UBND-NC ngày 23/02/2024, UBND huyện L xác nhận: “Theo vị trí thửa đất của hộ bà S1 và ông N thửa 34, tờ bản đồ số 7a thuộc vành đai sạt lở Sông T, thửa đất giáp sông nên nguyên nhân diện tích đất thực tế của bà S1 và ông N bị thiếu có khả năng bị sạt lở tự nhiên. Ngoài ra, để thực hiện công trình xử lý cấp bách sạt lở Sông Tiền (làm bờ kề Sông T) UBND huyện có vận động hộ dân có đất tiếp giáp Sông Tiền hiến đất (trong đó có hộ bà S1 và ông N) về diện tích đất hiến chưa đo đạc nên chưa xác định được)”. Do đó, không thể căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện L cấp bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N để xác định diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 34, tờ bản đồ số 07A có diện tích là 2.436m², nên người đại diện của bà S1, ông N chưa đủ căn cứ xác định diện tích bị thiếu là vị trí hầm cá ông D lấn chiếm.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp (hầm cá) diện tích 148,6m² trong phạm vi các mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M27 về M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L là thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 7a, đất tọa lạc tại xã M thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Lê Văn D nên Tòa án cấp sơ thẩm xử tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm do bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự; Điều 106, Điều 166, Điều 170, Điều 179 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
9
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D.
- Xác định diện tích đất 148,6m² trong phạm vi các mốc M4, M5, M6,
M7, M8, M9, M27 về M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 22 tháng 7 năm 2024 của
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L là thuộc thửa đất số 33, tờ bản
đồ số 7a, đất tọa lạc tại xã M thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Lê Văn D.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 33 tờ bản đồ số 7a hiện nay ông D đang sử dụng với thửa số 34, tờ bản đồ số 74 của bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là các đoạn thẳng nối các mốc M5 đến mốc M4 và mốc M4 đến mốc M27 theo sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ranh giới được sử dụng theo chiều thẳng đứng từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên (nếu có) lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 22/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Các đương sự được miễn tiền tạm ứng án phía và án phí do là người cao tuổi.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Ông Lê Văn D phải chịu số tiền là 1.855.785đ (Một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng). Số tiền này ông D đã nộp và chi xong.
Buộc bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N phải nộp số tiền là 1.855.785đ (Một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng) để trả lại cho ông D.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị S1 và ông Nguyễn Thành N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Thọ |
11
Bản án số 317/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 317/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nay ông D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà S và ông Nh phải có nghĩa vụ trả lại toàn bộ cái hầm có diện tích theo đo đạc thực tế là 189,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/8/2023 là của ông D và xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 33 của ông D chưa được cấp giấy với thửa đất số 34 của bà Sáu và ông Nh là tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5. Đối với phần diện tích đất 45,6m2 trong phạm vi các mốc M1, M9, M10, M11 về M1 là phần đất thuộc một phần đất của Tỉnh lộ 848 do Nhà nước quản lý thì ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
