|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 317/2025/DS-PT Ngày: 12-6-2025 V/v tranh chấp đòi tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Ông Nguyễn Văn Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 157/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
- Ông Trần Thành P, sinh năm 1996.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Bà Đặng Thị V, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Xóm B, thôn F, M, T, Bình Thuận. (Giấy ủy quyền ngày 23/5/2025).
Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Thôn A, Ê, K, Đắk Lắk. (Giấy ủy quyền ngày 23/5/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị Thúy H1, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Đặng Minh H2, sinh năm 1954.
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: Bị đơn là ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2023 và lời trình bày của ông Trần Văn H tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau:
Vào ngày 24/3/2021, cha ông là ông Trần Minh N1 có lập di chúc phân chia tài sản là quyền sử dụng đất cho mẹ kế ông là bà Nguyễn Thị L và em ruột ông là ông Trần Thành P, ông Trần Văn N2. Năm 2022 cha ông là ông Trần Minh N1 chết, sau đó em trai là ông Trần Văn N2 đồng ý bán phần di sản của ông N2 cho người khác, quá trình thực hiện việc chuyển nhượng thì ông N2 chết, người thừa kế của ông Nghĩa là bà Nguyễn Thị M và các con còn nhỏ. Sau đó, các chú bác trong gia đình kêu ông trả tiền để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp vay vốn ở Ngân hàng N3 thông qua chi nhánh huyện T ra để làm thủ tục sang tên cho những người thừa kế theo di chúc của ông N1 và làm thủ tục chuyển nhượng phần của ông N2. Lúc này bà L, ông P và bà M cũng đồng ý, ông đã đưa tiền và cùng bà L đến trả tiền nợ cho Ngân hàng N3 thông qua chi nhánh huyện T với tổng số tiền là 376.408.219 đồng. Ngoài ra ông có chi tiền di dời mồ mã của mẹ ruột ông số tiền là 28.600.000 đồng, tiền vay mượn chữa bệnh cho ông N1 tổng số tiền là 18.500.000 đồng. Ông H có yêu cầu phía bà L, ông P và bà M trả lại số tiền trên nhiều lần nhưng các ông, bà không đồng ý trả nên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N1 đứng tên ông H đang quản lý.
Ông H yêu cầu bà L, ông P và bà M phải liên đới trả cho ông tổng số tiền 486.752.295 đồng (Trong đó 376.408.219 đồng tiền ông đã chi trả Ngân hàng + 110.344.076 đồng tiền lãi), tại phiên tòa ông H xin thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà L, ông P và bà M phải liên đới trả cho ông số tiền 373.408.000 đồng (làm tròn số) và lãi suất 10,5%/năm thời gian từ 13/4/2022 đến ngày 27/6/2024 là 26 tháng (tính tròn tháng) (373.408.000 đồng x 10,5%/năm x 26 tháng = 84.950.000 đồng) + chi phí xây dựng mồ mã cha mẹ số tiền 24.600.000 đồng + tiền mượn trị bệnh cho ông N1 số tiền 18.500.000 đồng do ông đã trả cho ông Đặng Minh H2.
Đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị L, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M trình bày:
Các ông, bà không thống nhất theo nội dung trình bày của ông H vì các tài sản là quyền sử dụng đất của ông Trần Minh N1 đã có di chúc chia rõ ràng cho mẹ con bà, lúc còn sống phía ông N1 có vay tiền của Ngân hàng N3 thông qua chi nhánh huyện T nhưng trong đó ông N1 có khoản tiền vay dùm cho ông H, nay ông H yêu cầu mẹ con bà phải đứng ra trả hết khoản nợ của Ngân hàng thì bà không đồng ý, ngoài ra phần tiền làm mồ mã và tiền chữa bệnh cho ông N1, ông H2 thì mẹ con bà không đồng ý vì phần chi phí làm mồ mã và tiền vay điều trị bệnh cho ông N1 do bà vay mượn nhiều nơi và mượn của ông H2, ông N2 đã trả cho ông H2 để chữa trị bệnh cho ông N1. Trong đó, bà L mượn tiền của ông H2 là 10.000.000 đồng nhưng ông N2 khi còn sống đã trả rồi và phần của ông N2 mượn ông H2 thì bà M cho rằng đã trả cho ông H2 rồi.
Bà L, bà M và ông P không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H. Đồng thời, bà L, ông P, bà M yêu cầu ông H phải trả lại bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Minh N1 để ông, bà làm thủ tục nhận thừa kế theo di chúc của ông N1. Ngoài ra bà M yêu cầu ông H phải trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn N2.
Ông Đặng Minh H2 vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày:
Bà L có mượn của ông số tiền 10.000.000 đồng, ông N2 mượn số tiền 15.000.000 đồng để chữa trị bệnh cho ông Trần Minh N1, sau đó ông N2 có trả cho ông 6.500.000 đồng, còn nợ lại 18.500.000 đồng ông H đã trả tiền thay cho ông N2, bà L nên nay ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M về việc “Đòi tài sản”.
- Ông Trần Văn H phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BO 475641, BO475642, BO475643, BO 475644 số vào sổ cấp GCN: CH01098/2014, CH01099/2014, CH01100/2014, CH001101/2014 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 26/5/2014 đứng tên Trần Minh N1; Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: CX247044, CX247045, CX247046 số vào sổ cấp GCN: CH04757, CH04758 và CH04759 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/08/2020 đứng tên Trần Minh N1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BO 5646531 số vào sổ cấp GCN: CH 00431 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/5/2013 đứng tên Trần Văn N2.
- Về án phí:
Bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn H tổng số tiền 501.058.000 đồng, trong phần di sản của ông Trần Minh N1 đã chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M phải liên đới chịu 24.042.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 11.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông H đã nộp theo biên lai thu số 0001907 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Ông H được hoàn trả số tiền chênh lệch là 11.450.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Ngày 11/7/2024 bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông H không rút đơn khởi kiện, ông P, bà L1 không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
Bà Đặng Thị V trình bày: Đối với khoản tiền ông N1 vay ngân hàng, trong số tiền này ông H có vay tiền gốc là 90.000.000 đồng nhưng do cha con nên không làm giấy. Về chi phí di dời mồ mã mẹ ông H là do ông H tự làm mà không thông qua ý kiến của bà L1, ông P. Về tiền mượn ông H2 chỉ có 10.000.000 đồng và trả đủ cho ông H2. Bà L1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
Ông Nguyễn Quốc T thống nhất lời trình bày của bà V.
Ông Trần Văn H trình bày: Khoản tiền ông N1 vay ngân hàng là do ông N1 sử dụng, ông không có vay số tiền 90.000.000 đồng. Về chi phí di dời mồ mã mẹ ông thì trước khi di dời, ông có hỏi ý kiến của các cô, bác và ông P. Về số tiền mượn ông H2 để trị bệnh cho ông N1 do trả không đủ cho ông H2 nên ông phải trả thay, ông H2 cũng đã thừa nhận.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Tính có căn cứ và hợp pháp kháng cáo: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị L đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, 273, 276 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Quan điểm giải quyết kháng cáo:
Về số tiền trả nợ ngân hàng 373.408.000 đồng: Xét thấy ông H đã trả nợ cho Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T thay cho ông N1 số tiền là 373.408.000 đồng. Bị đơn bà L và ông P thừa nhận có việc ông H thanh toán thay số tiền nợ của ông N1 cho Ngân hàng nhưng bà L và ông P cho rằng số tiền nợ Ngân hàng có bao gồm tiền ông N1 vay dùm cho ông H 90.000.000 đồng nhưng bà L, ông P không có chứng cứ chứng minh có việc ông N1 vay dùm ông H. Ông N1 chết để lại di chúc cho bà L, ông P, ông N2 hưởng di sản, ông N2 đã chết có vợ là bà M và con tên Trần Thị Tường V1. Ông H chỉ yêu cầu bà L, ông P, bà M trả 373.408.000đ nên bản án sơ thẩm tuyên buộc bà L, ông P và bà M liên đới trả cho ông H 373.408.000 đồng là có căn cứ. Do đó, bà L và ông P kháng cáo không đồng ý liên đới trả cho ông H 373.408.000 đồng là không có căn cứ.
Về tiền lãi của số tiền 373.408.000 đồng với lãi suất 10,5%/năm thời gian từ 13/4/2022 đến ngày 27/6/2024 là 84.950.000 đồng: Xét thấy, ông H đã trả nợ Ngân hàng cho những người thừa kế của ông N1 (ông N2, ông P, bà L). Theo di chúc của ông N1 là để lại di sản cho bà L, ông P, ông N2 và sau khi ông N1 qua đời thì bà L, ông P, ông N2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T, tỉnh Long An (A) theo Hợp đồng tín dụng số 6615- LAV-202003228.
Những người thừa kế của ông N1 cho rằng do ông H không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Minh N1 từ khi nhận ở Ngân hàng về nên bị đơn không thể chuyển nhượng cho người khác dẫn đến không có tiền trả cho ông H. Tuy nhiên, lúc xảy ra tranh chấp bà L, bà M, ông P không có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời. Việc ông H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vì số tiền ông đã bỏ ra một khoảng lớn để trả Ngân hàng chưa nhận lại được từ các người thừa kế của ông N1. Ông H yêu cầu mức lãi suất 10,5%/năm là phù hợp theo hợp đồng đã ký kết với ngân hàng nên có căn cứ chấp nhận. Do đó bà L và ông P kháng cáo không đồng ý trả tiền lãi 84.950.000 đồng là không có căn cứ.
Về chi phí di dời xây dựng mồ mã số tiền 24.600.000đ (tại phiên tòa phúc thẩm ông H đồng ý chi phí di dời là 24.500.000 đồng). Xét thấy, khi ông N1 chết thì ông H đã tự di dời mộ của mẹ ông H về gần mộ của ông N1 nhưng chưa có sự bàn bạc thống nhất với bà L, ông P, bà M nên bà L, ông P kháng cáo không đồng ý trả chi phí di dời mồ mã cho ông H là có căn cứ. Ngoài ra, theo bản án sơ thẩm thì ông H yêu cầu bà L, ông P, bà M trả 24.600.000 đồng chi phí di dời và ông H chỉ cung cấp chứng cứ di dời mộ số tiền 14.600.000 đồng và chứng cứ xây mộ là 4.000.000 đồng nhưng bản án tuyên buộc bà L, ông P, bà M trả 24.500.000 đồng cũng không phù hợp.
Về tiền mượn điều trị bệnh cho ông N1 là 18.500.000 đồng. Xét thấy, bà L thừa nhận có mượn tiền của ông H2 số tiền 10.000.000 đồng. Bà M, bà L thừa nhận ông N2 có mượn của ông H2, nhưng không biết là bao nhiêu và ông N2 trả rồi. Ông H, ông H2 cho rằng ông N2 mượn 15.000.000 đồng, đã trả được 6.500.000 đồng, số tiền còn lại 8.500.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là 18.500.000 đồng ông H đã thanh toán trực tiếp cho ông H2. Bà L, bà M, ông P không chứng minh được số tiền ông N2 đã trả cho ông H2. Ông H2 xác nhận ông N2 đã trả cho ông số tiền 6.500.000 đồng, còn nợ lại 8.500.000 đồng ông H là người đã trả cho ông H2 tổng số tiền 18.500.000 đồng. Như vậy, những người thừa kế theo di chúc của ông Trần Minh N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông H số tiền 18.500.000 đồng là có căn cứ. Kháng cáo của bà L, ông P là không có căn cứ chấp nhận.
Theo bản án sơ thẩm nhận định những người thừa kế theo di chúc của ông N1 phải trả cho ông H gồm tiền vay đã trả ngân hàng là 373.408.000 đồng, tiền lãi là 84.950.000 đồng, chi phí di dời mồ mã 24.500.000 đồng, tiền mượn điều trị ông N1 là 18.500.00 đồng. Tổng cộng là 501.358.000 đồng nhưng bản án tính tổng cộng số tiền là 501.058.000 đồng là chưa chính xác, từ đó kéo theo bản án tính án phí đối với số tiền 501.058.000 đồng là chưa chính xác.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Thành P, bà Nguyễn Thị L. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P đúng quy định của pháp luật và đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, người vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Trần Thành P, bà Nguyễn Thị L giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- [4] Xét kháng cáo của bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P nhận thấy:
- [4.1] Về số tiền trả nợ ngân hàng 373.408.000 đồng: Ông Trần Văn H đã trả nợ cho Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T thay cho ông N1 số tiền là 373.408.000 đồng. Bị đơn bà L1 và ông P thừa nhận có việc ông H thanh toán thay số tiền nợ của ông N1 cho Ngân hàng nhưng bà L1 và ông P cho rằng số tiền nợ Ngân hàng có bao gồm tiền ông N1 vay dùm cho ông H số tiền 90.000.000 đồng. Ông H không thừa nhận có việc ông N1 vay dùm cho ông H số tiền 90.000.000 đồng và bà L1, ông P không chứng cứ chứng minh có việc ông N1 vay dùm ông H số tiền 90.000.000 đồng. Ông N1 chết để lại di chúc cho bà L1, ông P, ông N2 hưởng di sản, ông N2 đã chết có vợ là bà M và con tên Trần Thị Tường V1. Theo di chúc của ông N1 là để lại di sản cho bà L1, ông P, ông N2 và sau khi ông N1 qua đời thì bà L1, ông P, ông N2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng N3 chi nhánh huyện T tỉnh Long An (A) theo Hợp đồng tín dụng số 6615- LAV-202003228. Bà L1, ông P kháng cáo cho rằng do ông H không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Minh N1 từ khi nhận ở Ngân hàng về nên bị đơn không thể chuyển nhượng cho người khác dẫn đến không có tiền trả cho ông H. Tuy nhiên, lúc xảy ra tranh chấp bà L1, bà M, ông P không có yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời. Việc ông H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vì số tiền ông đã bỏ ra một khoảng lớn để trả Ngân hàng chưa nhận lại được từ các người thừa kế của ông N1. Ông H yêu cầu bà L1, ông P, bà M trả 373.408.000 đồng và tiền lãi của số tiền 373.408.000 đồng với lãi suất 10,5%/năm thời gian từ 13/4/2022 đến ngày 27/6/2024 là 84.950.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của ông H là có căn cứ. Kháng cáo của bà L1, ông P là không có căn cứ chấp nhận.
- [4.2] Về tiền mượn điều trị bệnh cho ông N1 là 18.500.000 đồng. Bà L1 thừa nhận có mượn tiền của ông H2 số tiền 10.000.000 đồng. Bà M, bà L1 thừa nhận ông N2 có mượn của ông H2, nhưng không biết là bao nhiêu và ông N2 trả rồi. Ông H, ông H2 cho rằng ông N2 mượn 15.000.000 đồng, đã trả được 6.500.000 đồng, số tiền còn lại 8.500.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là 18.500.000 đồng ông H đã thanh toán trực tiếp cho ông H2. Bà L1, bà M, ông P không chứng minh được số tiền ông N2 đã trả cho ông H2. Ông H2 xác nhận ông N2 đã trả cho ông số tiền 6.500.000 đồng, còn nợ lại 8.500.000 đồng ông H là người đã trả cho ông H2 tổng số tiền 18.500.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của ông H là có căn cứ. Kháng cáo của bà L1, ông P là không có căn cứ chấp nhận.
- [4.3] Về chi phí di dời xây dựng mồ mã số tiền 24.600.000 đồng (tại phiên tòa phúc thẩm ông H đồng ý chi phí di dời là 24.500.000 đồng). Xét thấy, khi ông N1 chết thì ông H đã tự di dời mộ của mẹ ông H về gần mộ của ông N1 nhưng chưa có sự bàn bạc thống nhất với bà L1, ông P, bà M nên bà L1, ông P kháng cáo không đồng ý trả chi phí di dời mồ mã cho ông H là có căn cứ.
- [5] Từ phân tích ở các mục [4.1], [4.2] và [4.3] chấp nhận một phần kháng cáo của bà L1, ông P. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H về việc yêu cầu bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M liên đới trả cho ông H số tiền di dời mồ mã là 24.500.000 đồng.
- [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị L1, ông Trần Văn P1, bà Nguyễn Thị M, ông Trần Văn H phải chịu theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [8] Phát biểu của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị L. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 26, 70, 72, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 165, 166, 167, 170, 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M về việc “Đòi tài sản”.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H về việc yêu cầu bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn H số tiền 24.500.000 đồng tiền di dời mồ mã.
- Ông Trần Văn H phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BO 475641, BO475642, BO475643, BO 475644 số vào sổ cấp GCN: CH01098/2014, CH01099/2014, CH01100/2014, CH001101/2014 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 26/5/2014 đứng tên Trần Minh N1; Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: CX247044, CX247045, CX247046 số vào sổ cấp GCN: CH04757, CH04758 và CH04759 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/08/2020 đứng tên Trần Minh N1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BO 5646531 số vào sổ cấp GCN: CH 00431 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/5/2013 đứng tên Trần Văn N2.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Thành P, bà Nguyễn Thị L không phải chịu. Ông Trần Thành P, bà Nguyễn Thị L được hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông P, bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002147, 0002148 cùng ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn H tổng số tiền 476.858.000 đồng (373.408.000 đồng + 84.950.000 đồng + 18.500.000 đồng) trong phần di sản của ông Trần Minh N1 đã chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Bà Trần Thị L1, ông Trần Thành P và bà Nguyễn Thị M phải liên đới chịu 23.074.320 đồng.
Ông Trần Văn H phải chịu 1.525.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 11.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông H đã nộp theo biên lai thu số 0001907 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Ông H được hoàn trả số tiền là 10.225.000 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 317/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 317/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H
