Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



Bản án số: 317/2024/HSST

Ngày: 03/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Quế Nhung

2/ Ông Nguyễn Văn Quản

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án

nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 450/2024/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1775/2024/HSST-QĐ ngày 12/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quốc T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988;Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 39/12, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở: Không nơi cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Xe ôm công nghệ; Cha: Nguyễn Văn B (chết); Mẹ: Nguyễn Thị T1; hoàn cảnh gia đình: có Vợ: Bùi Thị Mỹ L; có 01 Con Sinh năm: 2012 ; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Nhân thân:
    1. Ngày 27/4/2005, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Quốc T 04 năm tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2009, đóng án phí ngày 01/9/2006 (bút lục 46-47).
    2. Ngày 24/8/2012, Tòa án nhân dân Quận 12 tuyên phạt Nguyễn Quốc T 08 tháng tù tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2012; đóng án phí ngày 30/6/2014 (bút lục 37, 457).
    3. Ngày 26/7/2016, Tòa án nhân dân Quận 12 đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T thời gian 21 tháng. Chấp hành xong vào ngày 06/02/2018 (bút lục 50).
    4. Ngày 03/10/2024 bị U xử phạt hành chính số tiền 15.000.000 đồng theo Quyết định số 6837/QĐ-XPHC về hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ (BL 508-509). Nguyễn Quốc T chưa nộp phạt.

    Bị tạm giam từ ngày 17/10/2023 (BL 08; 21)

  3. 2. Nguyễn Văn B1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992; Tại: tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Cư trú: 65/2, Tổ H, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Quốc V; Mẹ: Trần Thị P; hoàn cảnh gia đình: có Vợ: Đoàn Thị L1, có 02 Con: lớn Sinh năm: 2013, nhỏ Sinh năm: 2016. Tiền án: không Tiền sự:
    1. Ngày 30/7/2013, Ủy ban nhân dân Quận U ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng. Đến ngày 07/8/2015 chấp hành xong (bút lục 67).
    2. Ngày 20/7/2016, Tòa án Nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 21 tháng. Đến ngày 19/01/2018 chấp hành xong (bút lục 465).
    3. Ngày 29/10/2018, Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 14/5/2020 (bút lục 64).
    4. Ngày 28/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Đến ngày 03/12/2022 chấp hành xong (bút lục 63).
    5. Ngày 12/10/2023, bị Công an quận G bắt về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/10/2024 UBND phường A, quận G ban hành Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 22/12/2023 UBND phường A, quận G ban hành Quyết định Hủy quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy với lý do Nguyễn Văn B1 bị khởi tố trong vụ án Trộm cắp tài sản (BL 460-461).

    Nhân thân: Ngày 20/10/2009, Ủy ban nhân dân Quận U ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng (bút lục 458).

    Bị tạm giam từ ngày 22/12/2023 (BL 332; 343) - (Có mặt).

*Người bị hại:

  1. Anh Lê Văn C, Sinh năm 1986
    HKTT: Ấp An Hòa, xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
    Trú tại: 1/78, đường ĐHT 10B, khu phố 5, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh - (Vắng mặt).
  2. Anh Đoàn Công M, Sinh năm 1972
    HKTT: 18, đường C, cư xá B, phường H, Quận A, TP . - (Vắng mặt).
  3. Chị Mai Thị Tú Q, Sinh năm 1986
    HKTT: Ấp Thanh Lương, xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
    Trú tại: 71/11B, tổ 78B, Khu phố 7, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh - (Vắng mặt).
  4. Chị Nguyễn Thị Xuân M1, Sinh năm 2005.
    HKTT: Áp T, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang
    Trú tại: 2384/20/1, tổ C, khu phố E, phường T, Quận A, Tp . - (Vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Hoàng T2, Sinh năm 1991
    HKTT: B189, khu phố C, phường Đ, Quận A, Tp . - (Vắng mặt).
  6. Chị Ngô Thị Mỹ L2, Sinh năm 1999.
    HKTT: Tổ dân phố Phú Thọ 3, phường Ninh Diêm, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
    Trú tại: 237/98/84C, Phạm Văn Chiêu, phường 14, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh - (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc T làm nghề chạy xe ôm công nghệ, thu nhập không ổn định nên rủ đối tượng L3 (chưa rõ lai lịch) là bạn xã hội của T đi trộm cắp tài sản là xe mô tô bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì L3 đồng ý. Với thủ đoạn T là người chuẩn bị sẵn dụng cụ phá khóa, L3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias, biển kiểm soát 59V2–187.67 (xe của T) chở T đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt, tài sản chiếm đoạt được sẽ bán chia đôi. T đã cùng L3 thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận A, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Với thủ đoạn như trên, vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 02/10/2023, khi đi đến trước địa chỉ số A, đường Đ, Khu phố E, phường Đ, Quận A thì T và L3 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 71L1 068.19 không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, T điện thoại cho người phụ nữ (chưa rõ lai lịch, không nhớ số điện thoại) để bán xe vừa chiếm đoạt được với giá 8.000.000 đồng và hẹn đến ngã ba đường TMT2A và đường T, Tổ C, Khu phố E, phường T, Quận A để bán xe. Tại đây, theo thỏa thuận, T giao xe cho 01 thanh niên (chưa rõ lai lịch). Sau đó, T nhận được số tiền 8.000.000 đồng do người phụ nữ mua xe chuyển từ tài khoản số 0972047373-Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 Chi nhánh L4 mang tên Võ Thị N đến tài khoản số 318788 của T đứng tên. Số tiền này T chia cho L3 4.000.000 đồng, T giữ 4.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Lê Văn C đến Công an phường Đ, Quận A để trình báo sự việc.

- Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 05/10/2023, khi cả hai đi đến trước công trình xây dựng tại địa chỉ số C, Khu phố G, phường T, Quận A thì T và L3 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển kiểm soát 59M2 – 194.85 để không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát và T liên hệ cho người phụ nữ trước đó, hình thức mua bán, giao nhận xe, nhận tiền tương tự vụ thứ nhất, bán được số tiền 11.000.000 đồng, T chia cho L3 số tiền 5.500.000 đồng, T giữ số tiền 5.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Đoàn Công M đã đến Công an phường T, Quận A để trình báo sự việc.

- Vụ thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 05/10/2023, khi cả hai đi đến trước phòng trọ số 3 tại địa chỉ số G, Tổ G, Khu phố G, phường T, Quận A thì T và L3 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 64D1 – 311.36 để không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát, sau đó T liên hệ cho người phụ nữ trước đó, với hình thức mua bán, giao nhận xe, nhận tiền tương tự, bán được số tiền 3.000.000 đồng, T chia cho L3 số tiền 1.500.000 đồng, T giữ số tiền 1.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, bà Mai Thị Tú Q đã đến Công an phường T, Quận A để trình báo sự việc.

- Vụ thứ tư: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 06/10/2023, khi cả hai đi đến trước địa chỉ số B, Tổ C, Khu phố E, phường T, Quận A thì T và L3 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển kiểm soát 81S1 – 199.95 để không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát. Sau đó, T liên hệ cho người phụ nữ trước đó, hình thức mua bán, giao nhận tương tự và bán được số tiền 10.000.000 đồng, T chia cho L3 số tiền 5.000.000 đồng, T giữ số tiền 5.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, bà Nguyễn Thị Xuân M1 đã đến Công an phường T, Quận A để trình báo sự việc.

- Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/10/2023, khi đi đến bãi đất trống, Tổ G, Khu phố E, phường Đ, Quận A thì T và L3 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, biển kiểm soát 59G2 – 021.17 để không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát, sau đó T liên hệ cho người phụ nữ trước đó, hình thức mua bán, giao nhận tương tự và bán được số tiền 4.000.000 đồng, T chia cho L3 số tiền 2.000.000 đồng, T giữ số tiền 2.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Nguyễn Hoàng T2 đã đến Công an phường Đ, Quận A để trình báo sự việc.

- Vụ thứ sáu: Với thủ đoạn như trên, vào khoảng 13 giờ ngày 10/10/2023, Nguyễn Quốc T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn B1 là bạn xã hội của T để rủ đi trộm cắp tài sản là xe mô tô lấy tiền chia nhau tiêu xài thì B1 đồng ý. Sau đó cả hai đi đến trước địa chỉ số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; T và Nguyễn Văn B1 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 79H1 – 824.27 để không người trông coi nên T phá ổ khóa chiếm đoạt rồi cả hai tẩu thoát, sau đó T liên hệ cho người phụ nữ trước đó, hình thức mua bán, giao nhận tương tự và bán được số tiền 3.500.000 đồng, T chia cho B1 số tiền 1.500.000 đồng, T giữ số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này, T và B1 đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, bà Ngô Thị Mỹ L2 đã đến Công an P1, quận G để trình báo sự việc.

Qua truy xét, Công an Q2 đưa Nguyễn Quốc T và Nguyễn Văn B1 cùng vật chứng về đấu tranh làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của T và B1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập (Bút lục 82 đến 103).

Bản cáo trạng 324/CT-VKS.Q12, ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Nguyễn Quốc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Văn B1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản 06 xe mô tô. Bị cáo Nguyễn Văn B1 khai nhận cùng với bị cáo T trộm cắp tài sản 01 xe mô tô. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T về tội Trộm cắp tài sản theo các điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn B1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Quốc T từ 03 năm đến 04 năm tù. Bị cáo Nguyễn Văn B1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Từ ngày 02/10/2023 đến ngày 10/10/2023, Nguyễn Quốc T cùng với L3 (chưa rõ lai lịch) đã thực hiện 05 vụ lén lút chiếm đoạt tài sản là 05 xe mô tô trên địa bàn Quận A của các ông bà Nguyễn Thị Xuân M1, Mai Thị Tú Q, Đoàn Công M, Nguyễn Hoàng T2, Lê Văn C. Ngoài ra, vào ngày 10/10/2023 Nguyễn Quốc T cùng Nguyễn Văn B1 đã trộm tài sản là 01 xe mô tô của bà Ngô Thị Mỹ L2 tại Phường A, quận G.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự

Ngày 11/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận G có công văn số 6923/CV-ĐTTH gửi đến Cơ quan CSĐT Công an Q2 về việc chuyển hồ sơ vụ án hình sự (BL 345)

Ngày 13/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an Q2 ban hành Quyết định nhập vụ án hình sự số 29/QĐ-CQCSĐT.

Về trách nhiệm hình sự:

  • Theo Bản kết luận định giá tài sản số 390/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận U kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 71L1 – 068.19; số máy: E34CE132763; số khung: RLCUE4120PY025472 của ông Lê Văn C, trị giá 15.500.000 đồng (vụ thứ nhất - bút lục 77-78).
  • Theo Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận U kết luận:
    1. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển kiểm soát 81S1-199.95; số máy: JM51E1803203; số khung: MHIJM511XMK803609 của bà Nguyễn Thị Xuân M1, trị giá 20.500.000 đồng (vụ thứ tư).
    2. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 64D1 – 311.36; số máy: JA31E0407696; số khung: 3129EY068258 của bà Mai Thị Tú Q, trị giá 10.500.000 đồng (vụ thứ ba).
    3. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, biển kiểm soát 59G2 – 021.17; số máy: JC54E3082664; số khung: 5385EZ054469 của ông Nguyễn Hoàng T2, trị giá 12.500.000 đồng (vụ thứ năm).
    4. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển kiểm soát 59M2 – 194.85; số máy: JF56E0125504; số khung: 5616FY013667 của ông Đoàn Công M, trị giá 23.000.000 đồng (vụ thứ hai) (bút lục 69-70).
  • Theo Bản kết luận định giá tài sản số 219/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp quận Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 79H1 – 824.27; số máy: JA38E0507060; số khung: 3826KY027863 của bà Ngô Thị Mỹ L2, trị giá 7.966.667 đồng (Vụ thứ sáu, bút lục 324-325).

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại trong 06 vụ là 89.966.667 đồng.

Nguyễn Quốc T có hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá 06 vụ là 89.966.667 đồng. Nguyễn Văn B1 có hành vi trộm cắp tài sản với Nguyễn Quốc T có trị giá là trị giá 7.966.667 đồng (vụ thứ sáu).

Nguyễn Quốc T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 06 lần trong thời gian ngắn, lấy thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội là nguồn thu nhập chính nên phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Quốc T và áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự để truy tố đối với Nguyễn Văn B1 là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội

Hành vi nêu trên của Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu:

Năm 2005, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Quốc T 04 năm tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Năm 2012, Tòa án nhân dân Quận 12 tuyên phạt 08 tháng tù tội Trộm cắp tài sản. Năm 2016, Tòa án nhân dân Quận 12 đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 21 tháng. Ngày 03/10/2024 bị U xử phạt hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ.

Năm 2009, Nguyễn Văn B1 bị Ủy ban nhân dân Quận U ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng. Năm 2013, Ủy ban nhân dân Quận U ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng. Năm 2016, Tòa án Nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 21 tháng. Năm 2018, Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Ngày 12/10/2023, bị Công an quận G bắt về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Các bị cáo đã được Nhà nước đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối, người bị hại Mai Thị Tú Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T vì đã bồi thường. Bị cáo B2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ..... để xem xét cho bị cáo Nguyễn Quốc T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Để xem xét cho bị cáo Nguyễn Văn B1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại bà Mai Thị Tú Q là chủ sở hữu xe mô tô biển số 64D1-311.36 (vụ thứ 3), đã nhận 8.000.000 đồng tiền bồi thường (Bút lục 105c).
  • Bị hại ông Đoàn Công M là chủ sở hữu xe mô tô biển số 59M2-194.85 (vụ thứ 2) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường trách nhiệm dân sự (Bút lục 116a).

Bà Mai Thị Tú Q, ông Đoàn Công M không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • Bị hại bà Nguyễn Thị Xuân M1 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 81S1- 199.95 (vụ thứ 4) yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (Bút lục 109 đến 113).
  • Bị hại ông Nguyễn Hoàng T2 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 59G2- 021.17 (vụ thứ 5) yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (Bút lục 114-115).
  • Bị hại ông Lê Văn C là chủ sở hữu xe mô tô biển số 71L1-068.19 (vụ thứ 1) yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 25.000.000 đồng (Bút lục 106-107).
  • Bị hại bà Ngô Thị Mỹ L2 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 79H1-824.27 (vụ thứ 6) yêu cầu bị cáo T, B1 phải bồi thường số tiền 24.500.000 đồng (mỗi bị cáo bồi thường 12.250.000 đồng) (Bút lục 116b).

Số tiền bị cáo Nguyễn Quốc T phải bồi thường là 72.250.000 đồng (20.000.000 đồng +15.000.000 đồng + 25.000.000 đồng + 12.250.000 đồng). Số tiền bị cáo Nguyễn Văn B1 phải bồi thường là 12.250.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường.

* Vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 (một) bộ dụng cụ dùng để phá khóa dẹp, trong đó gồm có: 03 (ba) thanh kim loại dài khoảng 7,5 cm có 01 đầu được mài; 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 06 cm có 01 đầu được mài; 01 (một) thanh kim loại hình dạng chữ L dài khoảng 11,5 cm; 01 (một) thanh kim loại màu vàng dài 05cm; 01 (một) chìa khóa ghi chữ Honda. Cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 04 (bốn) USB ghi nhận nội dung các vụ việc trộm cấp tài sản, tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias, biển kiểm soát: 59V2-187.67; số máy: 1SK1025180; số khung: RLCL1SK10FY025170. Quả xác minh, ông Dương Văn T3 đứng tên trên giấy đăng ký, đến năm 2021 bán lại cho ông Trần Thanh B3. Đến tháng 10/2021 thì ông Bình B4 lại cho bà Phạm Thị Thanh M2. Bà M2 đã cho Nguyễn Quốc T mượn xe này đi công việc, bà M2 không biết T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trả lại cho bà Phạm Thị Thanh M2 (Bút lục 257 đến 266, 268- 269, 271) là phù hợp.
  • Đối với 01 (một) bình xịt hơi cay màu đỏ ghi chữ PS 007 thu giữ trong cốp xe của T. Theo Kết luận giám định số 10210/KL-KTHS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H: 01 bình xịt bằng kim loại màu đỏ, dài khoảng 15 cm, có in chữ “PS007”, “110ml” là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Ủy ban nhân dân Quận U đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 6837/QĐ-XPHC ngày 03/10/2024 đối với Nguyễn Quốc T số tiền 15.000.000 đồng (BL 508) về hành vi “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 và hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính gồm: 01 (một) bình xịt hơi cay màu đỏ ghi chữ PS 007, giao Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an Q2 để xử lý theo quy định (Bút lục 505, 507 đến 509, 513). Nguyễn Quốc T chưa nộp phạt.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen, số IMEI 1: 353279110726455; số IMEI 2: 353280110726453 thu giữ của bị cáo T và 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Masstel màu xanh, số IMEI: 354931062771215 thu giữ của bị cáo B1. Các bị cáo dùng vào liên lạc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với L3 (chưa rõ lai lịch) tham gia trộm cắp 05 vụ với Nguyễn Quốc T, người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) mua xe trộm cắp, người thanh niên nhận xe (chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 tiếp tục xác minh, làm rõ. Khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
  • Đối với giao dịch mua xe trộm cắp với giá 8.000.000 đồng. Người phụ nữ dùng số tài khoản 0972047373 đứng tên bà Võ Thị N chuyển tiền cho Nguyễn Quốc T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, bà Võ Thị N khai không biết số tài khoản 0972047373 là của ai, bà không có đứng tên chủ số tài khoản này, bà không bị mất cũng không cho ai mượn chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân. Cơ quan Cảnh sát điều tra có 03 Công văn yêu cầu Ngân hàng TMCP Q1 – chi nhánh L4 cung cấp tài liệu liên quan đến việc mở tài khoản tại Ngân hàng nhưng đến nay chưa có phản hồi. Khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2023

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

2/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy All màu đen, số IMEI 1: 353279110726455; số IMEI 2: 353280110726453 đã qua sử dụng. 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Masstel màu xanh, số IMEI: 354931062771215 đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để phá khóa dẹp, trong đó gồm có: 03 (ba) thanh kim loại dài khoảng 7,5 cm có 01 đầu được mài; 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 06 cm có 01 đầu được mài; 01 (một) thanh kim loại hình dạng chữ L dài khoảng 11,5 cm; 01 (một) thanh kim loại màu vàng dài 05cm; 01 (một) chìa khóa ghi chữ Honda.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 286/QĐ-VKS ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc Nguyễn Quốc T bồi thường tổng cộng 72.250.000 đồng, bao gồm:

  • Bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Xuân M1
  • Bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho ông Nguyễn Hoàng T2
  • Bồi thường số tiền 25.000.000 đồng cho ông Lê Văn C
  • Bồi thường số tiền 12.250.000 đồng cho bà Ngô Thị Mỹ L2

Buộc Nguyễn Văn B1 bồi thường số tiền 12.250.000 đồng cho bà Ngô Thị Mỹ L2

Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu các bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi chậm trả tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.612.500 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn B1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 612.500 đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - VKSND Quận 12; (02)
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - THADS Quận 12; (02)
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM;(01)
  • - Công an Quận 12; (02)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (02)
  • - Bị cáo; (02)
  • - Người tham gia tố tụng khác;(06)
  • - Lưu hồ sơ vụ án. T 23. (05)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(01)

Ma Văn Nhất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 317/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 317/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T, Nguyễn Văn B1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger