Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

***

Bản án số: 317/2024/HS-ST

Ngày: 03/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Châu.
  2. Ông Bùi Quang Việt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 379/2024/HSST, ngày 17/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3210/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Tấn P, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 17 lô G, Chung cư chợ B, Phường A, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Th và bà Huỳnh Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: ngày 17/9/2020, bị Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 98/2020/HSST). Chấp hành án tại Trại giam Tống Lê Chân, Bộ Công an đến ngày 21/02/2021 chấp hành xong. Bị bắt tạm giam ngày 12/5/2021. (có mặt tại phiên toà).
  2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 97 Bông S, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim S (đã chết); có vợ Vũ Thị Tuyết N và 01 con lớn sinh 2013; nhân thân: ngày 22/10/1997, bị Tòa án nhân dân Quận B xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số 216/HSST). Chấp hành án tại Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 16/6/1998 chấp hành xong,

ngày 24/12/1999, bị Tòa án nhân dân Quận T xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 518/HSST), ngày 28/01/2000, bị Tòa án nhân dân Quận T xử phạt 75 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 66/HSST), cộng với 15 tháng tù của bản án 518/HSST. Tổng hợp hình phạt chung là 87 tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam Xuân Phước, Bộ Công an đến ngày 06/7/2005 chấp hành xong, ngày 27/10/2005, bị Tòa án nhân dân Quận Q xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 125/2005/HSST). Chấp hành án tại Trại giam Phước Hòa, Bộ Công an đến ngày 28/4/2008 chấp hành xong, ngày 16/01/2009, bị Tòa án nhân dân Quận F xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 20/2009/HSST). Chấp hành án tại Trại giam An Phước, Bộ Công an đến ngày 10/3/2012 chấp hành xong; Tiền án: ngày 17/4/2015, bị Tòa án nhân dân quận TB xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 73/2017/HSST). Chấp hành án tại Trại giam Cao Lãnh, Bộ Công an đến ngày 14/9/2017 chấp hành xong; ngày 28/11/2018, bị Tòa án nhân dân Quận A xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 108/2018/HSST). Chấp hành án tại Trại giam An Phước, Bộ Công an đến ngày 21/6/2020 chấp hành xong. Bị bắt tạm giam ngày 08/01/2022. (có mặt tại phiên toà).

  • Lê Ngọc P1, sinh năm 1979 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Tổ 3, Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh B; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn T và bà Lê Thị Kim H; có vợ Ngô Thị Ph (không đăng ký kết hôn) và 03 con lớn sinh năm 2002 và con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 13/5/1996, bị Tòa án nhân dân Quận J xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 78/HSST). Chấp hành tại Nhà tạm giữ Công an Quận J đến ngày 18/5/1996, chấp hành xong; ngày 02/11/2005, bị Tòa án nhân dân Quận J xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 183/2005/HSST). Chấp hành tại Trại giam Thạnh Hòa, Bộ Công an đến ngày 18/01/2007, chấp hành xong. Bị bắt tạm giam ngày 08/01/2022. (có mặt tại phiên toà).
  • Võ Thị Xuân L, sinh năm 1990 tại tỉnh B; nơi cư trú: ấp Long V, xã T, huyện C, tỉnh B; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S và bà Nguyễn Kim Ph; có chồng Nguyễn Hoàng K (đã chết) và 01 con sinh năm 2012; Bị áp dụng biện pháp tạm giam kể từ ngày 12/5/2021 đến ngày ngày 27/8/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên toà).
  • + Người bào chữa:

    1. Luật sư Vũ Anh T - Văn phòng luật sư Thanh Tuyền, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q. (có mặt).
    2. Luật sư Trần Th - Công ty Luật TNHH Bảo Vệ C, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc P1. (có mặt).

    + Bị hại:

    1. Ông Trần Nhật K3, địa chỉ: 71 Nguyễn B, Phường C, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
    2. Anh Lê Nguyễn Nhân H3; địa chỉ: 71 Phú Thọ H, phường P, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
    3. Bà Bùi Thị Anh Y3; địa chỉ: 66 đường số 1, Phường H, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
    4. Bà Nguyễn Thị Minh T3; địa chỉ: 13 Lộc H, Phường S, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
    5. Ông Lưu Trần Khánh H4; địa chỉ:179 Bùi Thị X, Phường T, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

    NỘI DUNG VỤ ÁN:

    Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Khoảng 21 giờ ngày 05/5/2021, Lê Tấn P cùng Võ Thị Xuân L, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1 và B (chưa rõ lai lịch) đi đám ma tại xã BH, huyện BC đến 23 giờ cùng ngày thì Q rủ P đi uống cà phê bàn việc đi trộm tài sản nên P chở L về phòng trọ tại số 43 đường số 8, xã BH, huyện BC rồi quay lại gặp Q tại quán cà phê ở khu vực C. Tại đây, Q rủ P cùng đi ăn trộm tài sản lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý, Q kêu P chạy xe Honda Sonic (không nhớ biển số) đi về, còn Q lấy xe Honda Vario, biển số 59N2-438.xx của P chạy đi và nói tìm được tài sản sẽ báo cho P biết.

    Đến khoảng 01 giờ ngày 06/5/2021, Q điện thoại cho P và hẹn gặp tại bãi giữ xe Bệnh viện Quận B. P chạy xe Honda Sonic ra gửi tại bãi giữ xe của bệnh viện, rồi dùng xe Honda Vario biển số 59N2-438.xx chở Q đi theo sự hướng dẫn của Q đến nhà anh Trần Nhật K3 tại địa chỉ số 71 Nguyễn B, Phường C, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, P đậu xe bên ngoài cảnh giới, còn Q leo lên lầu 1 vào trong nhà tìm tài sản. Khoảng 20 phút sau, Q quay lại, trên tay cầm một bịch nylon và nói với P “trộm được rồi, có tiền rồi, đi về”. Sau đó, P chở Q về phòng trọ của P tại địa chỉ số 43 đường số 8, xã BH, huyện BC, mở bịch nylon ra kiểm tra tài sản trộm được gồm có vàng (vàng miếng và vàng nữ trang, không nhớ chính xác số lượng), 40.000.000 đồng tiền Việt Nam và 20.600 USD tiền Đô la Mỹ, P và Q chia mỗi người được 10.300 USD và 20.000.000 đồng còn vàng thì gói lại cất giữ trong phòng trọ của P. Lúc này, Võ Thị Xuân L cũng có mặt tại phòng trọ và chứng kiến Q và P lấy vàng, tiền Việt Nam, tiền Đô la Mỹ ra khỏi bịch nylon để đếm, nên L biết Q và P vừa đi trộm cắp số tài sản trên về.

    Sau đó, P đưa số vàng cho Lê Ngọc P1 mang đi bán. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, P1 quay về nói bán vàng được 350.000.000 đồng và đưa cho Phát số tiền trên, P và Q chia cho P1 50.000.000 đồng và cho B 10.000.000

    đồng, còn lại P và Q chia đôi mỗi người được 145.000.000 đồng. Sau khi chia tiền, P chở L đến tiệm vàng Kim P T L, số 26A Bùi Minh T, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mua cho L 02 bộ vòng ximen bằng vàng 18K, 01 nhẫn vàng 18K, tổng trị giá 34.351.000 đồng và mua cho P 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K trị giá 8.565.000 đồng. Tiếp đó, P đến cửa hàng xe gắn máy của anh Thạch Hoàng M tại số 145 Phạm Thế H, Phường S, Quận B mua 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59L2-684.xx với giá 14.000.000 đồng (trả trước 10.000.000 đồng) rồi gửi xe lại cửa hàng để dán keo. Sau đó, P chạy xe Honda Sonic chở Loan, Q chạy Honda Sonic, P1 chạy xe Wave chở B cùng đi khu du lịch Dinh Cô chơi. Khi đến nhà của P1 tại tỉnh BRVT, P đưa 10.000 USD cho P1 và vợ P1 là Ngô Thị P4 mang đi bán. Sau đó, P1 đem đi bán được 220.000.000 đồng về đưa cho P, P cho P1 100 USD, cho P4 100 USD và cho L 100 USD. Đến 18 giờ 21 phút ngày 06/5/2021, P kêu P4 chở L đến cửa hàng V tại thị trấn Phước H, huyện Đ, tỉnh BRVT chuyển vào tài khoản của L số 9704151543027xxx mở tại Ngân hàng V 02 lần, tổng số 300.000.000 đồng. Sáng ngày 07/5/2021 khi quay về Thành phố Hồ Chí Minh P đi trả nợ tiền vay trước đó của một đối tượng ngoài xã hội (chưa rõ lai lịch) hết 45.000.000 đồng, mua 01 xe gắn máy Honda SH, biển số 59N1-026.xx với giá 175.000.000 đồng (tiền mua xe do L chuyển khoản trả cho cửa hàng). Sau khi mua xe, P nói L đến cây ATM rút 13.000.000 đồng đưa cho B, còn xe Honda SH, biển số 59N1-026.xx thì P cho Q mượn sử dụng. Tuy nhiên quá trình ghi lời khai Q không thừa nhận việc giữ chiếc xe trên, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho P và Q đối chất, đến nay P thay đổi lời khai là chiếc xe trên đưa cho B mượn. Hiện Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chiếc xe trên.

    Ngày 06/5/2021, anh Trần Nhật K3 đến trụ sở Công an Phường F, quận TB trình báo tài sản bị mất khoảng hơn 20.000 USD, 10 lượng vàng (gồm vàng miếng SJC và nhẫn loại 24K) không có hóa đơn, 40.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 5. Tổng giá trị tài sản khoảng 1.300.000.000 đồng.

    Theo kết quả khảo sát tại Công ty TNHH vàng bạc Uyên T tại thời điểm ngày 06/5/2021 thì 01 lượng vàng 24K có giá 50.050.000 đồng (10 lượng vàng 24K trị giá 500.500.000 đồng).

    Ngày 24/3/2022, Ngân hàng Nhà nước có công văn trả lời tỷ giá đô la Mỹ thời điểm ngày 06/5/2021 là 23.178 đồng/1USD (20.600 USD tiền Đô la Mỹ trị giá 477.466.800 đồng).

    Theo kết quả khảo sát tại Cửa hàng T thì chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Note 5, đã qua sử dụng trị giá 700.000 đồng. Tổng tài sản mà P và Q đã chiếm đoạt được là 1.018.666.800 đồng.

    Ngày 21/5/2021, Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Lê Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” và Võ Thị Xuân L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Đến ngày 08/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận TB phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc P1 về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, ghi lời khai Q đã khai nhận cùng với Phát thực hiện hành vi trộm cắp trên, ngoài ra Q còn cùng với P1 thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận TB cụ thể:

    Vụ thứ 1: Khoảng hơn 01 giờ ngày 17/12/2021, Lê Ngọc P1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh (xe mượn của bạn, không rõ biển số) chở Nguyễn Văn Q đi ngang Bưu cục chuyển phát nhanh J - Thuận P, địa chỉ số 122 Lạc Long Q, Phường A, quận TB thì Phiện cửa nhà trên tầng 1 không đóng, P1 dừng xe để Q trèo lên lầu 1 vào nhà lấy trộm được 21.000.000 đồng của anh Lê Nguyễn Nhân H3 (nhân viên Bưu cục Thuận P), Q và P1 chia nhau mỗi người được 10.500.000 đồng. Anh Lê Nguyễn Nhân H3 khai số tiền bị mất là 45.797.000 đồng, là số tiền thu được trong ngày có mã vận đơn và địa chỉ giao hàng kèm theo. Ngày 08/01/2022, anh H3 đến trụ sở Công an Phường A, quận TB trình báo và yêu cầu bồi thường số tiền 45.797.000 đồng.

    Vụ thứ 2: Khoảng 01 giờ ngày 18/12/2021, P1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave (màu xanh) chở Q đi ngang qua nhà số 66 Đường số 1, Phường T, quận TB, nhìn thấy trên tầng 1 mở cửa nên P1 dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới để Q đi bộ tiếp cận căn nhà rồi leo lên lầu 1, đột nhập vào nhà lấy trộm một số tài sản gồm: 01 điện thoại di động Iphone 11 promax, 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu đen xám, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus và 01 máy tính bảng Ipad của chị Bùi Thị Anh Y3, rồi theo đường cũ leo xuống đi ra khỏi nhà. Cả hai chạy đến cây xăng trên đường Lý Thường K - Lạc Long Q, Phường A, quận TB. Sau đó, P1 gọi điện thoại cho một người tên B (chưa rõ lai lịch) bán 3 chiếc điện thoại và 1 chiếc ipad. Bán xong, Q về phòng trọ, sáng hôm sau vào khoảng 11 giờ Q đi xe máy đến quán cà phê ở chung cư Ngô Gia T tại đường Trần Nhân T, Phường S, Quận A gặp P1, P1 nói bán được 10.000.000 đồng nên Q với P1 chia nhau mỗi người 4.000.000 đồng còn 2.000.000 đồng thì cho B. Ngày 22/12/2021, chị Y3 đến trụ sở Công an Phường T, quận TB trình báo và yêu cầu bồi thường số tiền 32.500.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 13/HĐĐGTS-TTHS, ngày 16/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TB, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng và 01 Ipad màu hồng có trị giá tổng cộng là 32.500.000 đồng.

    Vụ thứ 3: Vào khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 29/12/2021, P1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave (màu xanh) chở Q đi ngang qua nhà số 13 Lộc H, Phường H, quận TB, nhìn thấy cửa trên tầng 1 không khóa nên P1 dừng xe để Q đi bộ đến căn nhà dùng tay đu lên thanh sắt cổng nhà leo lên và bám qua lan can leo lên tầng 1 đi vào phòng ngủ tầng 1 căn nhà thấy phát hiện có 1 chiếc điện thoại di động Iphone XS max màu đen của chị Nguyễn Thị Minh T3 để ở dưới đất phía bên phải căn phòng nên Q đến lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi theo đường đột nhập cũ nhảy xuống dưới đất, đi ra ngoài. P1 chở Q tới gần chợ hoa Hồ Thị K, Quận A thì Q xuống xe đi về nhà tại địa chỉ 26 Lâm H, phường A, quận BT, còn P1 thì ngủ lại khu vực chợ hoa Hồ Thị K. Đến khoảng 10 giờ trưa ngày hôm sau, P1 liên hệ với một người tên B (chưa rõ lai lịch) để B đem đi bán được 7.000.000 đồng, P1 chia cho B 1.000.000 đồng, chia cho Q 3.500.000 đồng và giữ số tiền còn lại tiêu xài. Ngày 29/12/2021, chị Thư đến trụ sở Công an Phường H, quận TB trình báo và yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 03/HĐĐGTS-TTHS, ngày 25/01/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TB, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone Xmax màu đen trị giá là 11.000.000 đồng.

    Vụ thứ 4 : Khoảng 02 giờ ngày 08/01/2022, Q điều khiển xe mô tô biển số 59B 1-658.xx đến quán cà phê tại khu vực đường Lê Hồng P - Vĩnh V thuộc Quận A thì gặp P1 đang uống cà phê. Tại đây, Q rủ P1 đi trộm cắp tài sản thì P1 đồng ý. Q điều khiển xe mô tô đi gửi tại bãi xe bên hông nhà thờ Cha Tam, số 36 Phú H, Phường A, Quận J còn P1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 72E1-496.xx chở Q đi ngang qua nhà số 179 Bùi Thị X, Phường T, quận TB thì Phiện trên tầng 1 căn nhà không đóng cửa. Q kêu P1 đứng cảnh giới còn Q đi bộ tới, leo qua hàng rào rồi trèo qua lan can lên ban công lầu 1, đi vào phòng phát hiện có 01 Ipad màu trắng 32GB, 01 chiếc điện thoại Samsung màu đen của anh Lưu Trần Khánh H4 để trên bàn kế bên giường nệm, Q đi đến lấy chiếc Ipad và chiếc điện thoại Samsung cùng chiếc ba lô màu xám để trên giường bên trong có 01 chiếc Laptop hiệu Dell màu đen, 5.000.000 đồng và 01 tờ đô la Mỹ có mệnh giá 02 USD), rồi theo đường cũ đi ra ngoài. Sau đó, P1 chở Q đi vào 1 con hẻm của đường Cách Mạng Tháng T, Phường O, Quận A giấu chiếc ba lô đựng toàn bộ số tài sản vừa trộm cắp được bỏ vào trong chiếc xe bán hủ tiếu để ngoài hẻm, trước nhà số 595 Cách Mạng Tháng T, Phường O, Quận A rồi P1 tiếp tục chở Q đi đến ngã 3 đường Tô Hiến T - Cách Mạng Tháng T thì Q xuống xe và bắt xe ôm về lấy xe mô tô của mình. Sau đó Q điều khiển xe đi gặp P1 rồi cả hai đi đến trước nhà số 595 Cách Mạng Tháng T, Phường O, Quận A để lấy ba lô. Khi Q vừa lấy ba lô bỏ lên xe mô tô thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội, Công an quận TB kiểm tra Phiện bắt quả tang đưa cả hai cùng vật chứng về trụ sở Công an quận TB làm rõ.

    Kết luận định giá số 36/HDĐGTS-TTHS, ngày 29/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TB, kết luận: 01 Ipad màu trắng 32GB, 01 chiếc điện thoại Samsung màu đen, 01 chiếc Laptop hiệu Dell màu đen, và 01 tờ đô la Mỹ có mệnh giá 02 USD có giá tổng cộng là 9.445.700 đồng.

    Ngày 27/4/2022, Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” và Lê Ngọc P1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1 và Võ Thị Xuân L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

    Vật chứng vụ án: (Bản kê danh sách kèm theo cáo trạng).

    Về phần dân sự: Anh Trần Nhật K3 yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000.000 đồng, anh Lê Nguyễn Nhân H3 yêu cầu bồi thường số tiền 45.797.000 đồng, chị Nguyễn Thị Minh T3 yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, chị Bùi Thị Anh Y3 yêu cầu bồi thường số tiền 32.500.000 đồng. Hiện các bị cáo chưa bồi thường. Riêng anh Lưu Trần Khánh H4 đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

    Tại bản Cáo trạng số 464/CT-VKS-P2 ngày 30/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

    Lê Tấn P và Nguyễn Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Lê Ngọc P1 về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Võ Thị Xuân L về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm d khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1, Võ Thị Xuân L đã thừa nhận các hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.

    Ông Trần Nhật K3 là bị hại đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải bồi thường trả lại cho ông trị giá tài sản bị mất trộm là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Về hình phạt thì đề nghị xử theo quy định của pháp luật.

    Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của các bị cáo, bị hại, cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lê Tấn P và Nguyễn Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản”; Lê Ngọc P1 về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Võ Thị Xuân L về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị hội đồng xét xử:

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Tấn P từ 14 đến 16 năm tù;

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 16 đến 18 năm tù;

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm a khoản 3 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Ngọc P1 từ 03 đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 08 đến 09

    năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo chấp hành từ 11 đến 13 năm tù;

    Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị Xuân L từ 03 đến 04 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được từ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 12/5/2021 đến ngày 27/8/2021.

    Buộc các bị cáo bồi thường cho người bị hại; Đồng thời xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo Võ Thị Xuân L đề nghị xem xét lại hành vi của bị cáo trong vụ án này.

    Luật sư Vũ Anh T trình bày bài bào chữa cho bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q: Luật sư đồng quan điểm với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều – khoản – điểm đối với hai bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo với tình tiết thành khẩn khai báo giúp cho cơ quan điều tra sớm hoàn tất điều tra giải quyết vụ án. Bị cáo P và bị cáo Q có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

    Bị cáo P và bị cáo Q thống nhất với bài bào chữa của vị luật sư Vũ Anh T và không tranh luận gì thêm.

    Luật sư Trần Thanh trình bày bài bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc P1: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Cáo trạng truy tố bị cáo P1 là đúng hành vi, đúng người đúng tội. Bị cáo có con còn nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về hòa nhập xã hội, lao động giúp đỡ gia đình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo P1 thống nhất với bài bào chữa của luật sư Trần T, không tranh luận gì thêm.

    Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối đáp: Đối với bị cáo L có hành vi phạm tội được thể hiện rõ trong các bản tự khai, biên bản hỏi cung, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên không có cơ sở xem xét ý kiến của bị cáo Loan. Việc kết tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo Llà có căn cứ.

    Về ý kiến của các vị luật sư bào chữa cho bị cáo Phát, Q và P1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

    Các bên còn đưa ra một số ý kiến tranh luận, nhưng cuối cùng vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày.

    Trong phần nói lời sau cùng, tất cả các bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1, Võ Thị Xuân L, bị hại, các luật sư bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    [2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1, Võ Thị Xuân L đã khai nhận toàn bộ những hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ, bản kết luận định giá tài sản...

    Những tình tiết, chứng cứ trên đã có cơ sở xác định: Vào ngày 06/5/2021 Lê Tấn P và Nguyễn Văn Q đã lén lút đột nhập vào số 71 Nguyễn B, Phường C, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh lấy trộm 20.600 USD, 10 lượng vàng (gồm vàng miếng SJC và nhẫn loại 24K), 40.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 5, tổng trị giá 1.018.666.800 đồng. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định được Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc P1 đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận TB. Cụ thể: Ngày 17/12/2021, Q và P1 đột nhập vào nhà số 1226 Lạc Long Q, Phường A, quận TB lấy trộm số tiền 45.797.000 đồng của anh Lê Nguyễn Nhân H3, ngày 18/18/2021 đột nhập vào nhà số 66 Đường số 1, Phường H, quận TB lấy trộm một số tài sản trị giá 32.500.000 đồng của chị Bùi Thị Yến Anh, ngày 29/12/2021 đột nhập vào nhà số 13 Lộc H, Phường H, quận TB lấy trộm tài sản trị giá 11.000.000 đồng và ngày 07/01/2022 đột nhập và nhà số 179 Bùi Thị X, Phường S, quận TB lấy trộm tài sản trị giá 9.445.700 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong 04 vụ án là 98.742.700 đồng. Như vậy tổng số tài sản mà Lê Tấn Phát chiếm đoạt được là 1.018.666.800 đồng, Nguyễn Văn Q chiếm đoạt được là 1.116.409.500 đồng và Lê Ngọc P1 chiếm đoạt được 98.742.700 đồng.

    Ngoài ra, Lê Ngọc P1 biết số vàng mà P đưa nhờ đi bán dùm là do phạm tội mà có nhưng P1 vẫn mang 10 lượng vàng, trị giá 500.500.000 đồng đi đến tiệm vàng khu vực chợ Xóm C (không nhớ tên tiệm) bán số vàng trên về đưa cho Phát và Q và được Phát và Q cho 50.000.000 đồng.

    Võ Thị Xuân L biết vàng và tiền mà P đưa về là tài sản do trộm cắp được mà có nhưng vẫn đi cùng với P đến tiệm vàng K P T L, số 26A Bùi Minh T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để được P mua cho 02 bộ vòng ximen bằng vàng 18K, 01 nhẫn vàng 18K, tổng trị giá 34.351.000 đồng

    Do đó, Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo Lê Tấn P và Nguyễn Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Lê Ngọc P1 về tội: “Trộm cắp tài sản” và “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Võ Thị Xuân L về tội: “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm d khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

    [3] Hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xử phạt mỗi bị cáo với mức án tương xứng thì mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

    [4] Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn và đã tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo Võ Thị Xuân L có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn; Vì vậy, xét có thể áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; Bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1 có nhân thân xấu, đều từng bị xét xử về các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật; Các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q có tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo Lê Tấn P thuộc trường hợp “tái phạm”, bị cáo Nguyễn Văn Q thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn Q trước đó đã 06 lần bị xử lý hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, lần phạm tội này Q thực hiện liên tiếp 05 vụ trộm cắp và sử dụng làm nguồn sống nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đã áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đối với bị cáo nên không áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo Q.

    Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

    [5] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đã truy tố các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q, Lê Ngọc P1, Võ Thị Xuân L là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

    [6] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Ông Trần Nhật K3 yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ông Lê Nguyễn Nhân H3 yêu cầu bồi thường số tiền 45.797.000 đồng, bà Nguyễn Thị Minh T3 yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, bà Bùi Thị Anh Y3 yêu cầu bồi thường số tiền 32.500.000 đồng. Riêng ông Lưu Trần Khánh H4 đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có yêu cầu bồi thường. Xét thấy các bị cáo Lê Tấn P và Nguyễn Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Trần Nhật K3 nên cần buộc các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q liên đới bồi thường cho ông Trần Nhật K3 số tiền 1.000.000.000 đồng, khấu trừ số tiền buộc bị cáo Võ Thị Xuân L phải nộp lại 34.400.000 (ba mươi tư triệu bốn trăm nghìn) đồng để trả cho bị hại Trần Nhật K3. Bị cáo P và bị cáo Q còn phải bồi thường cho ông K3 là (1.000.000.000 đồng - 34.400.000 đồng = 965.600.000 đồng); 04 vụ trộm cắp còn lại cho Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc P1 thực hiện nên cần buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc P1 liên đới bồi thường cho: ông Lê Nguyễn Nhân H3 số tiền 45.797.000 đồng, bà Nguyễn Thị Minh T3 số tiền 11.000.000 đồng, bà Bùi Thị Anh Y3 số tiền 32.500.000 đồng. Riêng ông Lưu Trần Khánh H4 đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

    [7] Về các biện pháp tư pháp, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Đối với số tiền 91.000.000 đồng và 100 USD thu giữ của các bị cáo Lê Tấn P, Võ Thị Xuân L, do không có cơ sở xác định đây là tài sản do phạm tội mà có nên trả lại cho Lê Tấn P và Võ Thị Xuân L nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Lê Tấn P. (theo các giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9058xxx.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại kho bạc nhà nước Quận A ngày 17/7/2023);
    • - Đối với Xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SONIC 150R; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59B1 -658.xx; SK: MH1KB1110KK235xxx; SM: KB11E1234xxx; ( không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) chưa xác định được chủ sở hữu nên thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm chủ sở hữu trong vòng 6 tháng, sau thời hạn này mà không có người đến nhận thì sung vào Ngân sách Nhà nước.
    • - Đối với xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA;Số loại: WAVE A; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59L2 -684.49; SK: RLHJA3909HY575xxx; SM: JA39E0550xxx; (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) xe này Lê Tấn P khai mua của anh Thạch Hoàng M nhưng chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo khai mua xe từ tiền trộm cắp mà có nhưng không có căn cứ xác định nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Lê Tấn P.
    • - Đối với xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SONIC; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59L2 -586.xx; SK: MH1KB111XHK121xxx; SM: KB11E1118xxx; (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) bị cáo Lê Tấn P khai mua của anh Hà Hữu N nhưng chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo khai mua xe từ tiền trộm cắp mà có nhưng không có căn cứ xác định nên trả lại cho bị cáo nhưng cần nên cần tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Lê Tấn P.
    • - Đối với 01(một) điện thoại di động Iphone XS Max số Imei/số khay sim: 353093102573xxx (thực nhận 01 điện thoại Iphone có số Imei khay sim: 353093102573xxx, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại di động Iphone 6S số Imei/số khay sim: 353283073129xxx (model A1687, thực nhận 01 điện thoại Iphone S, Imei khay sim không có, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại Nokia màu đen (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max số Imei/số khay sim: 350002269234xxx (không sim, thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone, Imei khay sim: 350002269234xxx, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại Samsung màu xanh (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) thu giữ của các bị cáo, xét thấy các bị cáo dùng các điện thoại này làm phương tiện liên lạc phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
    • - Đối với các vật chứng còn lại: 02 (hai) nón bảo hiểm màu xanh đen, có hiệu G; 01(một) áo khoác màu xanh đen có chữ G; 01(một) túi đeo chéo màu đen; 01(một) quần Jean; 01(một) áo sơ mi màu nâu tay dài; 01(một) đôi dép kẹp màu xanh dương; 01(một) nón bảo hiểm hiệu Gr; 01(một) áo khoác hiệu Gr; 01(một) quần tây dài; 01 (một) đôi dép kẹp hiệu Bi; 01(một) cây kéo màu đen dài khoảng 20cm xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01(một) thẻ ngân hàng V mang tên Võ Thị Xuân L là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo Võ Thị Xuân L nên trả lại cho bị cáo L.

    (Theo biên bản giao nhận tang vài vật số NK/2024/009 ngày 10/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

    • - Đối với số vàng thu giữ của bị cáo Lê Tấn P và Võ Thị Xuân L: 01 Nhẫn kim loại màu vàng, có đính đá màu trắng hàm lượng 61,24%Au, khối lượng 7,105 gram; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng hàm lượng 61,63%Au, khối lượng 9,242 gram; 01 Nhẫn kim loại màu vàng, có đính đá màu trắng hàm lượng 61, 46%Au, trọng lượng 7,950 gram; 01 nhẫn kim loại màu vàng hàm lượng 61,63Au, trọng lượng 3,222 gram; 01 nhẫn kim loại màu vàng hàm lượng 62,33%Au, trọng lượng 2,394 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,97%Au, trọng lượng 2,402 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,86%Au, trọng lượng 2,218 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,88%Au, trọng lượng 2,300 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,435 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,84%Au, trọng lượng 2,343 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,90%Au, trọng lượng 2,178 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,178 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,344 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,87%Au, trọng lượng 2,168 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,79%Au, trọng lượng 2,317 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,95%Au, trọng lượng 2,051 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 61,12%Au, trọng lượng 2,313 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,87%Au, trọng lượng 2,103 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 61,07%Au, trọng lượng 2,293 gram; các bị cáo khai mua số vàng này từ tiền trộm cắp mà có nhưng không có cơ sở xác định nên trả lại cho các bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Lê Tấn P (Theo biên bản giao nhận số 04/2023/BBBG-CQ CSĐT CATPHCM ngày 03/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh về việc gửi giữ tài sản tại Kho bạc nhà nước Quận A)

    [8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH

    1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Tấn P 15 (mười lăm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021;
    2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (mười tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2022.
    3. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm a khoản 3 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Ngọc P1 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 08 (tám) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo chấp hành là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2022;
    4. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Thị Xuân L 03 (ba) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được từ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 12/5/2021 đến ngày 27/8/2021.
    5. Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Buộc bị cáo Võ Thị Xuân L phải nộp lại số tiền 34.400.000 (ba mươi tư triệu bốn trăm nghìn) đồng để trả cho bị hại Trần Nhật Khánh.

    Buộc các bị cáo Lê Tấn P, Nguyễn Văn Q liên đới bồi thường cho ông Trần Nhật K3 số tiền 965.600.000 (chín trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn) đồng, chia theo phần buộc mỗi bị cáo phải bồi thường là 482.800.000 (bốn trăm tám mươi hai triệu tám trăm nghìn) đồng;

    - Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc P1 liên đới bồi thường trả cho các ông bà, gồm: ông Lê Nguyễn Nhân H3 số tiền 45.797.000 (bốn mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn) đồng, chia theo phần buộc mỗi bị cáo phải bồi thường là 22.898.500 (hai mươi hai triệu tám trăm chín mươi tám nghìn năm trăm) đồng; bà Nguyễn Thị Minh T3 số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng, chia theo phần buộc mỗi bị cáo phải bồi thường là 5.500.000 (năm triệu năm trăm nghìn) đồng; bà Bùi Thị Anh Y3 số tiền 32.500.000 (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng, chia theo phần buộc mỗi bị cáo phải bồi thường là 16.250.000 (mười sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trả lại cho bị cáo Lê Tấn P, Võ Thị Xuân L các tài sản sau nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án, bao gồm:

    • + Số tiền 91.000.000 (chín mươi mốt triệu) đồng và 100 USD (một trăm đô la Mỹ) thu giữ của các bị cáo Lê Tấn P, Võ Thị Xuân L, (theo các giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9058xxx.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại kho bạc nhà nước Quận A ngày 17/7/2023); 01 chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE A; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59L2 - 684.xx; SK: RLHJA3909HY575xxx; SM: JA39E0550xxx; (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) ; 01 chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SONIC; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59L2 -586.xx; SK: MH1KB111XHK121xxx; SM: KB11E1118xxx; (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
    • + Số vàng thu giữ của bị cáo Lê Tấn P và Võ Thị Xuân L, gồm: 01 Nhẫn kim loại màu vàng, có đính đá màu trắng hàm lượng 61,24%Au, khối lượng 7,105 gram; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng hàm lượng 61,63%Au, khối lượng 9,242 gram; 01 Nhẫn kim loại màu vàng, có đính đá màu trắng hàm lượng 61,46%Au, trọng lượng 7,950 gram; 01 nhẫn kim loại màu vàng hàm lượng 61,63Au, trọng lượng 3,222 gram; 01 nhẫn kim loại màu vàng hàm lượng 62,33%Au, trọng lượng 2,394 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,97%Au, trọng lượng 2,402 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,86%Au, trọng lượng 2,218 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,88%Au, trọng lượng 2,300 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,435 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,84%Au, trọng lượng 2,343 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,90%Au, trọng lượng 2,178 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,178 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,92%Au, trọng lượng 2,344 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,87%Au, trọng lượng 2,168 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,79%Au, trọng lượng 2,317 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,95%Au, trọng lượng 2,051 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 61,12%Au, trọng lượng 2,313 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 60,87%Au, trọng lượng 2,103 gram; 01 chiếc vòng kim loại màu vàng hàm lượng 61,07%Au, trọng lượng 2,293 gram;

    (Theo biên bản giao nhận số 04/2023/BBBG-CQ CSĐT CATPHCM ngày 03/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh về việc gửi giữ tài sản tại Kho bạc nhà nước Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh).

    • - Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm chủ sở hữu trong vòng 6 tháng đối với 01 chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SONIC 150R; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59B1 -658.xx; SK: MH1KB1110KK235xxx; SM: KB11E1234xxx; (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), sau 06 tháng mà không có người đến nhận thì sung vào Ngân sách Nhà nước.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động Iphone XS Max số Imei/số khay sim: 353093102573xxx (thực nhận 01 điện thoại Iphone có số Imei khay sim: 353093102573xxx, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại di động Iphone 6S số Imei/số khay sim: 353283073129xxx (model A1687, thực nhận 01 điện thoại Iphone S, Imei khay sim không có, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại Nokia màu đen (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max số Imei/số khay sim: 350002269234xxx (không sim, thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone, Imei khay sim: 350002269234xxx, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại Samsung màu xanh (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -Tịch thu tiêu hủy: 01(một) quần Jean; 01(một) áo sơ mi màu nâu tay dài; 01(một) đôi dép kẹp màu xanh dương; 01(một) nón bảo hiểm hiệu Gr; 01(một) áo khoác hiệu Gr; 01(một) quần tây dài; 01 (một) đôi dép kẹp hiệu Bi; 01(một) cây kép màu đen dài khoảng 20cm; 02(hai) nón bảo hiểm màu xanh đen, có hiệu G; 01(một) áo khoác màu xanh đen có chữ G; 01(một) túi đeo chéo màu đen.
    • Trả lại cho Võ Thị Xuân L 01(một) thẻ ngân hàng V mang tên Võ Thị Xuân L.

    (Theo biên bản giao nhận tang vài vật số NK2024/009 ngày 10/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

    Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Lê Tấn P phải chịu 20.484.000 (hai mươi triệu bốn trăm tám mươi tư nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 22.716.425 (hai mươi hai triệu bẩy trăm mười sáu nghìn bốn trăm hai mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo Lê Ngọc P1 phải chịu 2.232.425 (hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo Võ Thị Xuân L phải chịu 1.720.000 (một triệu bẩy trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.s

    Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Nơi nhận:

    • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
    • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1)
    • - VKSND TP.HCM; (3)
    • - Cục THADS TP.HCM; (1)
    • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
    • - Trại giam; (3)
    • - Bị cáo; (4)
    • - Đương sự; (5)
    • - Luật sư; (2)
    • - THAHS TP.HCM; (4)
    • - PV06-CA TP. HCM; (1)
    • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; (4)
    • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (35) (5)

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

    Phan Thanh Nguyễn

    THÔNG TIN BẢN ÁN

    Bản án số 317/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản và tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

    • Số bản án: 317/2024/HS-ST
    • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản và Tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
    • Cấp xét xử: Sơ thẩm
    • Ngày ban hành: 03/07/2024
    • Loại vụ/việc: Hình sự
    • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
    • Đính chính: Đang cập nhật
    • Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn Phát và đồng phạm Trộm cắp tài sản
    Tải về bản án
    Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
    Luật sư Hải A.I
    Hỗ trợ trực tuyến
    Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger