Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2023/HS-ST

Ngày 26 – 12 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Bé
  2. Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. 1. Phạm Minh T (Q), sinh năm 1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký HKTT: Số C đường T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số C đường T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1954 và bà Trần Thị A, sinh năm 1952; bị cáo có vợ tên: Nguyễn Thị Thanh T1; Con: Có 02 con tên Phạm Khánh N, sinh năm 2015 và Phạm Khánh D, sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. 2. Nguyễn Phương T2 (M), sinh năm 1990; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký HKTT: Ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng T3, sinh năm 1991; Con: Có 02 con tên Nguyễn Ngọc Phương A1, sinh năm 2010 và Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Hoàng K1, sinh năm 2000; địa chỉ: D Tỉnh lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Mỹ H2, sinh năm 1974; địa chỉ: D Tỉnh lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Hoàng K2, sinh năm 1998; Địa chỉ: D Tỉnh lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ ngày 04/11/2022, Phạm Minh T gọi điện thoại cho Nguyễn Phương T2 để yêu cầu T2 lấy xe máy cày kéo rơmooc không biển số của T chở lúa giống ra đồng ruộng tại ấp Đ, xã T, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh để sạ lúa thì T2 đồng ý. Đến 08 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe máy cày kéo rơmooc không biển số lùi từ trong sân nhà số B ra đường V, ấp V, xã T, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh, lúc lùi xe không có tín hiệu, khu vực trước nhà số B có nhiều cây cối che khuất tầm nhìn, T2 không quan sát được các phương tiện lưu thông trên đường V theo cả 2 hướng. Khi T2 lùi xe phần đuôi xe ra đến phần đường bên phải đường V theo hướng xã T đi xã P thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59Y3-051.35 do ông Nguyễn Hoàng K1 điều khiển trên đường V hướng xã T đi xã P. Ông K1 bị té ngã xuống đường, xe mô tô biển số 59Y3-051.35 tiếp tục chạy khoảng 49 mét trên đường và ngã vào lề làn đường bên trái.

Hậu quả ông Nguyễn Hoàng K1 tử vong vào lúc 10 giờ 15 phút cùng ngày 04/11/2022 sau khi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường: Hiện trường là đường V phía trước số nhà B ra đường V, ấp V, xã T Thượng, Võ Văn Đ huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh. Đoạn đường rộng 7m70, có vạch kẻ đường màu vàng nét liền ở khoảng giữa đường (vạch 1.2), phần đường bên phải hướng ra quốc lộ B rộng 3m80, phần đường còn lại rộng 3m90. Đoạn đường được trải nhựa, bên phải đường hướng đi Quốc lộ B có nhiều cây phía trong lễ và phía trước số nhà B, trước nơi xảy ra tai nạn là dốc cầu, trước cầu có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (biển số W207a). Phần đường bên phải hướng Quốc lộ B đi đường T có biển W207e và W.201b.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ sự việc giống như bản cáo trạng nêu.

Tại bản cáo trạng số 225/CT-VKS.CC ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo:

  • Nguyễn Phương T2 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Phạm Minh T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà trong phần luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên toà tiếp tục khẳng định hành vi phạm tội của các bị cáo tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố thể hiện trong cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T2 với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) – 05 (năm).
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng đề nghị:

  • Lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingdom màu xanh lá cây dung lượng 2GB lưu trữ đoạn phim có liên đến vụ án.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 xe máy cày kéo romooc không biển số (đã qua sử dụng) không được phép lưu hành;
  • Đối với 01 xe mô tô biển số 59Y3-051.35, đã qua sử dụng, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoàng K2, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Trần Thị Mỹ H2 là mẹ ruột của nạn nhân Nguyễn Hoàng K1 đã nhận hỗ trợ chi phí mai táng từ Phạm Minh TNguyễn Phương T2 số tiền 300.000.000 đồng và cam kết không yêu cầu ông TT2 phải hỗ trợ hoặc chi trả chi phí nào khác liên quan đến vụ tai nạn, có đơn bãi nại đối với TT2, cam kết không thắc mắc khiếu nại về dân sự, hình sự trong vụ tai nạn giao thông nói trên nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên toà bị cáo Phạm Minh TNguyễn Phương T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, đại diện gia đình bị hại, bị đơn dân sự cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy, có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[1] Về tội danh:

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Phương T2, Phạm Minh T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận pháp y tử thi, kết luận giám định dấu vết trên các phương tiện và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 07 giờ ngày 04/11/2022, Phạm Minh T biết Nguyễn Phương T2 không có giấy phép lái xe hạng A4 nhưng vẫn gọi điện thoại cho Nguyễn Phương T2 để yêu cầu T2 lấy xe máy cày kéo rơmooc không biển số của T chở lúa giống ra đồng ruộng tại ấp Đ, xã T, huyện C để sạ lúa thì T2 đồng ý. Đến 08 giờ 00 cùng ngày, T2 điều khiển xe máy cày kéo rơmooc không biển số lùi từ trong sân nhà số B ra đường V, ấp V, xã T, huyện C, không có tín hiệu, khu vực trước nhà số B có nhiều cây cối che khuất tầm nhìn, không quan sát được các phương tiện lưu thông trên đường V theo cả 2 hướng nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59Y3.051.35 do ông Nguyễn Hoàng K1 điều khiển, dẫn đến K1 tử vong sau khi đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Hành vi giao xe cho người không có giấy phép lái xe điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả anh K1 tử vong của Phạm Minh T đã vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo của bị cáo Phạm Minh T đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả anh K1 tử vong của Nguyễn Phương T2 đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 16 Luật giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 như truy tố Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[2.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Phương T2, Phạm Minh T không có tình tiết tăng nặng.

[2.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Phương T2: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại được quy định tại b khoản 1 Điều 51 và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là lao động chính trong gia đình; trong thời gian chờ xét xử bị cáo đã có ý thức chấp hành tốt pháp luật, Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, được gia đình bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Đối với bị cáo Phạm Minh T: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại được quy định tại b khoản 1 Điều 51 và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là lao động chính trong gia đình; trong thời gian chờ xét xử bị cáo đã có ý thức chấp hành tốt pháp luật, Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, được gia đình bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Trần Thị Mỹ H2 là mẹ ruột của bị hại ông Nguyễn Hoàng K1 đã nhận hỗ trợ chi phí mai táng từ Phạm Minh TNguyễn Phương T2 số tiền 300.000.000 đồng, không yêu cầu ông TT2 phải hỗ trợ hoặc chi trả chi phí nào khác liên quan đến vụ tai nạn, có đơn bãi nại đối với TT2, không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • 01 USB hiệu Kingdom màu xanh lá cây dung lượng 2GB lưu trữ đoạn phim có liên đến vụ án nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
  • 01 xe máy cày kéo romooc không biển số (đã qua sử dụng), không được phép lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe mô tô biển số 59Y3-051.35, đã qua sử dụng, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoàng K2 – anh trai của K1), nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; luật phí và lệ phí năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án để buộc các bị cáo phải chịu khoản tiền chi phí tố tụng hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố:

  1. [1.1] Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

    Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 264; Điều 36, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

  2. [1.2] Bị cáo Nguyễn Phương T2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn Phương T2 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Phương T2 cho Ủy ban nhân dân thị xã A, huyện C để giám sát, giáo dục bị cáo trong suốt thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

[2] Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingdom màu xanh lá cây dung lượng 2GB lưu trữ đoạn phim có liên đến vụ án.
  • Tịch thu, sung vào quỹ Nhà nước 01 xe máy cày kéo rơmooc không biển số (đã qua sử dụng) không được phép lưu thông.
  • Đối với 01 xe mô tô biển số 59Y3-051.35, đã qua sử dụng, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoàng K2, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; luật phí, lệ phí năm 2015, nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Minh T, Nguyễn Phương T2 mỗi người phải chịu Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

[4] Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 316/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 316/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger