|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 316/2024/HS-ST Ngày: 25-6-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí;
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Cán bộ Hội Phụ nữ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024 và ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 309/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 294/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn H, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Hùng Sùi; Sinh năm 1966, tại Quảng Nam; Nơi cư trú: 246, tổ F, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn T (đã chết); Họ tên mẹ: Ngô Thị L (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Ngô Thị Hồng L1, sinh năm 1967. Bị cáo có 02 con: lớn nhất đã chết, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án: Ngày 02/02/2021 bị Toà án nhân dân Thành phố Biên Hoà tuyên xử Nguyễn H phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 12/02/2024, Nguyễn H chưa thi hành xong số tiền phạt (Chưa xoá án tích); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 đến ngày 22/02/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
2. Bị cáo Lê Văn T1, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979, tại Bình Định; Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: 32, tổ D, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ tên cha: Lê Văn B, sinh năm 1947 (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1947 (còn sống); Gia đình bị cáo có 08 chị em, bị cáo là con thứ sáu; Họ và tên vợ: Trương Thị Hồng N, sinh năm 1980. Bị cáo có 02 con: lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 đến ngày 22/02/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
3. Bị cáo Trần Quang T2, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: E293A, tổ H, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Quang X, sinh năm 1969 (đã chết); Họ tên mẹ: Vũ Thị H1, sinh năm 1969 (còn sống); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Đỗ Thị P, sinh năm 2001. Bị cáo có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/8/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 468/2015/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 đến ngày 22/02/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
4. Bị cáo Nguyễn Xuân T3, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987, tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: E327A, tổ F, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên cha: Nguyễn Xuân M, sinh năm 1958 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1960 (còn sống); Gia đình bị cáo 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Nguyễn Mỹ Hạnh T5, sinh năm 1987. Bị cáo có 02 con: lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn H: Bà Nguyễn Ngọc H2 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 12 tháng 02 năm 2024, các đối tượng: Nguyễn H, sinh năm 1966, thường trú: 246, tổ F, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Trần Quang T2, sinh năm 1996, thường trú: E293 tổ H, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1987, thường trú: E327A, tổ F, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cùng rủ nhau đến khu vực tổ G, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chơi đánh bài ăn tiền. Khi đến nơi, cả ba nhìn thấy một phòng trọ không đóng cửa, không có người nên rủ nhau vào đó chơi đánh bạc dưới hình thức “binh xập xám” thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn T1 đi qua thấy H, T2, T3 đang đánh bài nên xin chơi cùng thì được đồng ý.
Hình thức đánh bài: Các bị cáo sử dụng một bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 13 lá bài, sau đó từng người cầm bài lên sắp xếp thành 03 chi, có 02 chi mỗi chi 05 lá bài và 01 chi 03 lá bài. Sau khi xếp bài xong thì sẽ tiến hành so từng chi với nhau (từng người chơi so vòng tròn với những người còn lại), hai người so bài với nhau thì người nào thắng nhiều chi hơn thì sẽ thắng chung cuộc, người thua phải chung cho người thắng 100.000 đồng, ngoài ra nếu ai "mậu binh" (trong bài có tứ quý, sảnh 05 lá đồng chất, sảnh rồng hoặc 06 đôi) thì các người chơi còn lại phải chung mỗi người 100.000 đồng cho người có bài “mậu binh” rồi những người chơi còn lại tiếp tục so bài với nhau để phân thắng thua. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi H, T3, T2, T1 đang thực hiện hành vi đánh bạc với nhau thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền dùng để đánh bạc: 14.960.000 đồng trong đó, thu trên chiếu bạc 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng); thu số tiền trong người các đối tượng dùng để đánh bạc: 6.860.000 đồng (Sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng), thu số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) Nguyễn Xuân T3 cầm theo khi bỏ chạy.
Các đối tượng khai nhận mang theo số tiền dùng để đánh bạc từng người cụ thể như sau:
- - Nguyễn H mang theo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và dùng hết số tiền để đánh bạc.
- - Lê Văn T1 mang theo 2.960.000 đồng (Hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) và dùng hết số tiền để đánh bạc
- - Trần Quang T2 mang theo 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và dùng hết số tiền để đánh bạc.
- - Nguyễn Xuân T3 mang theo 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và dùng hết số tiền để đánh bạc.
Vật chứng:
- - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng + 04 bộ bài tây chưa qua sử dụng.
- - 01 chăn bông màu đỏ trắng kích thước 1m8 x 2m; 01 đĩa cân inox nhãn hiệu Nhơn Hoà đường kính 20cm
- - Thu giữ 14.960.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) là số tiền dùng để đánh bạc, trong đó:
- + T6 trên chiếu bạc: 7.100.000 đồng (bảy triệu một trăm nghìn đồng)
- + Thu trên người các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc (Nguyễn H: 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), Lê Văn T1: 2.160.000 đồng (Hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- + Nguyễn Xuân T3 giao nộp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) số tiền sử dụng để đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen, số imei 1: 351037759010272, số imei 2: 3510375559146035, gắn sim số 0949129021 của Nguyễn H là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo H.
- - 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu ghi 128 GB, số imei 1: 35538749574967, số imei 2: 355387495875405, gắn sim số 0347483594 là tài sản cá nhân của Trần Quang T2 không liên quan đến hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo T2.
- - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A70 màu đen, số imei 1: 355915103462487, số imei 2: 355916103462485, gắn sim số 0947717494 và 0849996641 là tài sản cá nhân của Lê Văn T1 không liên quan đến hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo T1.
2. Các vấn đề khác:
Đối với bà Lê Thị Tuyết H3 là chủ của phòng trọ không số địa chỉ 24/42/1/4 tổ G, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, qua làm việc bà H3 khai đã mở cửa phòng trọ để trống từ trước cho thoáng vì mới sơn sửa phòng, các đối tượng tự ý vào đánh bạc, bà H3 không hề hay biết, bà không thu tiền xâu nên không có cơ sở xử lý.
3. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 326/CT-VKSBH-HS ngày 29/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo: Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm p, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Quang T2 từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T3 từ 06 tháng đến 10 tháng tù.
- - Xử lý vật chứng theo quy định.
- - Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo H, T2, T1, T3 có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
4. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn H là bà Nguyễn Ngọc H2 trình bày:
Thống nhất về nội dung truy tố, định tội và khung hình phạt của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn H: Quá trình làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người khuyết tật nặng, việc đi lại rất khó khăn, thường xuyên cần có người phụ giúp trong việc di chuyển để phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hàng ngày; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận. Tuy là người khuyết tật nặng, hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của địa phương nhưng lại là lao động chính trong nhà, phải đi bán vé số để nuôi vợ (bị tai nạn không có khả năng lao động) và cháu nhỏ (cháu nội, cha mẹ ruột của cháu đã bỏ đi không rõ đang ở đâu), thu nhập bấp bênh, không ổn định. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không phù hợp và không cần thiết đối với bị cáo H; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với một người vốn dĩ kém may mắn, không lành lặn về thể chất và để bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa.
5. Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ khoảng 18 giờ 00 đến 20 giờ 30 ngày 12/02/2024, tại phòng trọ không số địa chỉ 24/42/1/4 tổ G, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo gồm Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 cùng thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, với hình thức “Binh xập xám” tổng số tiền ăn thua dùng để đánh bạc là 14.960.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản cáo trạng số 326/CT-VKSBH-HS ngày 29/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 phạm tội “Đánh bạc” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về tính chất đồng phạm, vai trò của từng bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, với tính chất đồng phạm giản đơn trong đó các con bạc gồm Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 đều là những người thực hiện hành vi đánh bạc.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- + Bị cáo Nguyễn H: Tái phạm (điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự).
- + Các bị cáo Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Bị cáo Nguyễn H: Là người khuyết tật nặng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận quy định tại điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Trần Quang T2: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Xuân T3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; Có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Có khả năng tự cải tạo và việc không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, việc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết: Đối với bị cáo Nguyễn H, xét thấy bị cáo là người khuyết tật nặng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cho bị cáo cải tạo không giam giữ là phù hợp với quy định pháp luật; Đối với các bị cáo Lê Văn T1, Trần Quang T2, xét thấy nên áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo đồng thời cũng thể hiện được sự nhân đạo của phát luật Nhà nước ta. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Xuân T3 (bị cáo bỏ trốn), xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 04 bộ bài tây chưa qua sử dụng.
- - 01 chăn bông màu đỏ trắng kích thước 1m8 x 2m; 01 đĩa cân inox nhãn hiệu Nhơn H4 đường kính 20cm.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 14.960.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) là số tiền dùng để đánh bạc.
[4] Về vấn đề khác:
Đối với bà Lê Thị Tuyết H3 là chủ của phòng trọ không số địa chỉ 24/42/1/4 tổ G, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, qua làm việc bà H3 khai đã mở cửa phòng trọ để trống từ trước cho thoáng vì mới sơn sửa phòng, các đối tượng tự ý vào đánh bạc, bà H3 không hề hay biết, bà không thu tiền xâu nên không có cơ sở xử lý là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- - Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận;
- - Đối với phần trình bày của người bào chữa và các bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 phạm tội “Đánh bạc”.
a) Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm p, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn H 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 đến ngày 22/02/2024 (10 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn H.
b) Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần Quang T2 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
c) Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
d) Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 04 bộ bài tây chưa qua sử dụng.
- - 01 chăn bông màu đỏ trắng kích thước 1m8 x 2m; 01 đĩa cân inox nhãn hiệu Nhơn H4 đường kính 20cm.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 14.960.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
Các vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên lai thu tiền số 0002243 ngày 25/6/2024 và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn H, Lê Văn T1, Trần Quang T2, Nguyễn Xuân T3 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hòa |
Bản án số 316/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 316/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
