|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 316/2024/DS-PT Ngày 24-6-2024 |
|
|
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 188/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 306/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Xuân Á, sinh năm 1975; địa chỉ: số A đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Ngô Minh N, sinh năm 1964; thường trú: C1-18.02, G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2023); có mặt.
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản uỷ quyền ngày 14/12/2023); có đơn yêu cầu giải quyết có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: số A ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ văn phòng: tầng G, Tòa nhà A G, số D, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Kim C, sinh năm 1995; đại chỉ: tầng 2, Tòa nhà A G, số D, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/6/2024); có mặt.
· Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2023 và lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn bà Hồ Thị Xuân Á, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 25 tháng 06 năm 2021, bà Hồ Thị Xuân Á có ký với Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) 01 Thỏa thuận đặt cọc số: B2-05.08/TTDC-LDGSKY/2021 để đảm bảo cho việc ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số B2-05.08 thuộc dự án khu C (khu C) tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương với giá 2.990.725.000 đồng. Sau khi ký thỏa thuận đặt cọc, bà Á đã thanh toán tiền cọc cho Công ty Đ tổng cộng 06 đợt với tổng số tiền là 598.145.000 đồng. Theo Điều 4 của thoả thuận, Hợp đồng mua bán căn hộ phải được ký kết vào ngày 30/03/2022 (có thể chậm hơn hoặc sớm hơn không quá ba (03) tháng). Nhưng đến thời hạn, Công ty Đ vẫn không tổ chức ký hợp đồng mua bán với bà Á vì lý do chậm tiến độ thi công. Bà Á đã rất thông cảm với Công ty Đ nên đồng ý tiếp tục chờ nhưng sau đó bà Á đã trực tiếp lên dự án để xem tiến độ thi công và thấy dự án vẫn chưa thi công xong phần móng. Do đó, bà Á đã lên Công ty Đ và đề nghị thanh lý thỏa thuận đặt cọc. Ngày 26/7/2022, bà Á đã tiến hành ký Biên bản thanh lý thoả thuận đặt cọc với Công ty Đ và Biên bản xác nhận khoản tiền lãi với Công ty Đ tính từ ngày 07/12/2022 đến ngày 31/03/2023 (114 ngày) là 26.154.505 đồng.
Ngày 19/10/2023, Công ty Đ đã gửi cho bà Á giấy xác nhận về việc xác nhận lãi suất bổ sung cho khánh hàng tính từ ngày 01/04/2023 đến ngày 31/12/2023 (274 ngày) là 44.901.844 đồng. Công ty cam kết sẽ thanh toán tiền cho bà Á nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán. Khi bà Á lên làm việc yêu cầu thanh toán thì Công ty có gửi thư đề nghị bà Á gia hạn thanh toán nhưng bà Á đã không đồng ý. Nay, bà Á yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc Công ty Đ trả lại cho bà Á số tiền gốc và tiền lãi theo biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc 624.299.505 đồng (tiền cọc: 598.145.000 đồng và lãi từ 07/12/2022 đến ngày 31/3/2023: 26.154.505 đồng) (1).
- Buộc Công ty Đ phải trả cho bà Hồ Thị Xuân Á số tiền lãi theo giấy xác nhận số B2-05.08/2023/GXN2-LDG ngày 19/10/2023 tính từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/12/2024 là 44.901.844 đồng (2).
- Tiền lãi do chậm trả, với mức lãi suất 10%/năm, tính từ 01/01/2024 đến ngày Tòa án xét xử ngày 26/3/2024 là 02 tháng 25 ngày là: 598.145.000 đồng x 10%/năm (0,83%/tháng) x 2 tháng 25 ngày = 14.122.868 đồng (3).
Tổng số tiền bà Hồ Thị Xuân Á yêu cầu công ty Đ thanh toán cho bà Á là 683.324.217 đồng = (1) + (2) + (3).
Bà Á cam kết toàn bộ tiền đặt cọc mua căn hộ nêu trên là tiền riêng của bà Á, không thuộc sở hữu chung với bất cứ tổ chức, cá nhân nào khác.
2. Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) là ông Triệu Phúc T trình bày:
Thống nhất về việc ký kết thỏa thuận đặt cọc, nội dung đặt cọc, số tiền đặt cọc như nguyên đơn đã trình bày. Tuy nhiên, trong thời gian dài sau khi hai bên ký Thoả thuận đặt cọc thì dịch bệnh Covid-19 bùng phát nhiều lần đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thực hiện thủ tục pháp lý của dự án và Công ty Đ đã cố gắng nỗ lực vượt qua những khó khăn để thực hiện các thủ tục nhằm đảm bảo tiến độ ký kết Hợp đồng mua bán với khách hàng. Đến thời điểm hiện nay, Công ty Đ đã được Sở Xây dựng tỉnh B cấp giấy phép xây dựng đối với Dự Án theo Giấy phép số 668/GPXD ngày 01/03/2022 và dự kiến đến tháng 12/2023, dự án sẽ đáp ứng các điều kiện để ký kết Hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật. Do bà Á có nhu cầu muốn thanh lý Thoả thuận đặt cọc vì vậy Công ty có mời bà Á lên làm việc bà Á đã làm đơn đề nghị thanh lý Thỏa thuận đặt cọc, sau đó ký hồ sơ thanh lý theo quy định của Công ty Đ vào cùng ngày 26/7/2022 để có cơ sở hoàn trả tiền cho bà Á theo quy định tại Điều 5.3 của Thoả thuận đặt cọc với các nội dung sau: Số tiền cọc là 598.145.000 đồng, trong đó tiền cọc và việc thanh toán được thực hiện trong vòng 10 ngày làm việc kể từ sau ngày 31/3/2023 và bà Á hoàn tất nghĩa vụ tại khoản 3.2 Điều 3 Biên bản thanh lý. Sau đó Công ty Đ có thực hiện xác nhận hỗ trợ cho khách hàng số tiền lãi là 26.154.505 đồng. Ngày 19/10/2023 Công ty Đ xác nhận lãi cho bà Á số tiền lãi là 44.901.844 đồng. Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ sau ngày 31/3/2023 Công ty Đ không nhận được hồ sơ theo khoản 3.2 điều Biên bản thanh lý nên chưa thực hiện việc thanh toán cho bà Á. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty đồng ý hoàn trả lại số tiền cọc là 598.145.000 đồng và tiền lãi hỗ
trợ 26.154.505 đồng theo biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc, tiền lãi theo Giấy xác nhận số B2-05.08/2023/GXN2-LDG ngày 19/10/2023 số tiền 44.901.844 đồng. Đối với tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/3/2024 bị đơn không đồng ý thanh toán cho nguyên đơn.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Xuân Á đối với bị đơn Công ty Cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho bà Hồ Thị Xuân Á tổng số tiền 683.324.217 đồng (sáu trăm tám mươi ba triệu ba trăm hai mươi tư nghìn hai trăm mười bảy đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ phải chịu 31.332.969 đồng (ba mươi mốt triệu ba trăm ba mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng). Hoàn trả cho bà Hồ Thị Xuân Á 15.384.027 đồng (mười lăm triệu ba trăm tám mươi tư nghìn không trăm hai mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001563 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 05/4/2024 bị đơn công ty Cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn Công ty Cổ phần Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần tiền lãi. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn do ông Nguyễn Văn N1 đại diện có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự có tên trên.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thời gian, nội dung của Thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 25/06/2021, Phụ lục số 01, số 02 và Biên bản thanh lý thoả thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 26/07/2022 xác nhận số tiền Công ty Đ sẽ thanh toán cho bà Á là 624.299.505 đồng, bao gồm tiền cọc: 598.145.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 07/12/2022 đến ngày 31/03/2023 (114 ngày) là 26.154.505 đồng; Giấy xác nhận về việc xác nhận lãi suất bổ sung cho khách hàng tính từ ngày 01/04/2023 đến ngày 31/12/2023 (274 ngày) là 44.901.844 đồng. Tổng số tiền Công ty Đ đồng ý thanh toán cho bà Á 669.201.349 đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Xét thấy, Thoả thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 25/06/2021, Phụ lục số 01, số 02, Biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 26/07/2022 giữa Công ty Đ với bà Hồ Thị Xuân Á được giao kết giữa người có thẩm quyền, thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Thỏa thuận đặt cọc giữa hai bên nhằm đảm bảo cho việc mua căn hộ ký hiệu số B2-05.08, thuộc dự án khu chung cư L (khu C) tại Lô C, khu đô thị M tọa lạc tại phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, bị đơn Công ty Đ không thực hiện được đúng cam kết nên ngày 26/07/2022, nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất thanh lý thỏa thuận đặt cọc. Tại Biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 26/07/2022, các bên tự nguyện, đồng ý chấm dứt Thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 25/06/2021, Phụ lục số 01, số 02; đồng thời, Công ty Đ có trách nhiệm trả cho bà Á số tiền 624.299.505 đồng, trong đó: tiền đặt cọc 598.145.000 đồng và tiền lãi 26.154.505 đồng; thời gian thanh toán trong vòng 10 ngày làm việc kể từ sau ngày 31/3/2023. Đến ngày 19/10/2023, Công ty Đ tiếp tục gửi cho bà Á Giấy xác nhận về việc xác nhận lãi suất bổ sung cho khánh hàng tính từ ngày 01/04/2023 đến ngày
31/12/2023 (274 ngày) là 44.901.844 đồng, tổng số tiền Công ty Đ phải thanh toán cho bà Á là 669.201.349 đồng. Như vậy, Thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 25/06/2021, Phụ lục số 01, số 02 đã chấm dứt theo thỏa thuận của các bên, quy định tại khoản 2 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Căn cứ nội dung thỏa thuận tại Biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 26/07/2022, Biên bản xác nhận khoản tiền lãi ngày 26/07/2022 hai bên đã thỏa thuận đến ngày 14/4/2023, bị đơn Công ty Đ phải thanh toán tiền cho nguyên đơn. Tuy nhiên, sau ngày 14/4/2023 bị đơn không thanh toán tiền cho nguyên đơn mà tiếp tục gửi Giấy xác nhận về việc xác nhận lãi suất bổ sung cho khách hàng ngày 19/10/2023. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận đến nay chưa thanh toán số tiền theo biên bản thanh lý và giấy xác nhận bổ sung tiền lãi cho nguyên đơn. Bị đơn cho rằng theo quy định tại mục 3.2 Điều 3 của Biên bản thanh lý các bên đã thỏa thuận: “Bên B có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cho bên A bản chính thỏa thuận đặt cọc số B2-05.08 LDGSKY/2020 ngày 25/06/2021 và các phụ lục văn bản chứng từ liên quan đến thỏa thuận đặt cọc (nếu có) cho bên A trước khi bên A hoàn tất việc hoàn trả tiền nêu tại Điều 2 bên bản thanh lý này”, do nguyên đơn chưa trả các tài liệu bản chính cho Công ty nên Công ty chưa trả tiền cho bên nguyên đơn, Công ty không có lỗi về việc chưa trả tiền theo thỏa thuận cho nguyên đơn, vì vậy, Công ty không đồng ý trả tiền lãi chậm trả cho nguyên đơn. Xét, việc trả tiền là nghĩa vụ của bị đơn và bị đơn hoàn toàn là người chủ động. Phía nguyên đơn không thể biết khi nào bị đơn hoàn tất việc trả tiền để thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ giấy tờ cho bị đơn như trong thỏa thuận và chỉ thực hiện được nghĩa vụ này khi được phía bị đơn thông báo về việc trả tiền nên tại biên bản thanh lý chỉ ghi nhận về thời hạn thanh toán tiền mà không ghi rõ về thời gian phía nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giấy tờ. Tại phiên tòa, các bên đều xác định thời gian thanh toán số tiền theo biên bản thanh lý nhưng bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn. Theo Biên bản thanh lý hạn chót hết ngày 14/4/2023, sau khi ký biên bản thanh lý nguyên đơn vẫn thường xuyên đến Công ty Đ yêu cầu việc trả tiền nhưng Công ty Đ không thanh toán, nguyên đơn đã có biên bản làm việc yêu cầu Công ty phải thanh toán đầy đủ số tiền mà Công ty đã thỏa thuận với nguyên đơn nhưng đến nay vẫn không có hồi đáp. Từ đó đến nay, phía bị đơn cũng không có thông báo gửi cho nguyên đơn nêu rõ ngày giờ về việc sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền theo biên bản thanh lý nên phía nguyên đơn cũng không thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giấy tờ. Đồng thời, toàn bộ các văn bản mà các bên ký kết thì đều được lập thành 03 bản như nhau và bên bị đơn đang giữ 02 bản nên nghĩa vụ hoàn trả các văn bản của bị đơn không ảnh hưởng việc đến thời gian hoàn trả tiền cọc của bị đơn cho nguyên đơn theo đúng cam kết
của bị đơn. Do vậy, việc bị đơn cho rằng do nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cho bị đơn bản chính thỏa thuận đặt cọc và các phụ lục, văn bản chứng từ liên quan trước khi nguyên đơn hoàn tất việc trả tiền nên đến nay bị đơn không trả tiền theo biên bản thanh lý và không phát sinh nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả trên số tiền phải trả là hoàn toàn không phù hợp.
[2.4] Tại Điều 357 Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên bị đơn phải chịu trách nhiệm trả lãi trên số tiền chậm trả, tại biên bản thanh lý hợp đồng hai bên không thỏa thuận mức lãi suất chậm trả nên trong trường hợp này áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để làm căn cứ giải quyết. Quá trình tố tụng, bị đơn thống nhất với số tiền lãi phải trả cho nguyên đơn 26.154.505 đồng theo biên bản thanh lý, biên bản xác nhận khoản tiền lãi tính từ ngày 07/12/2022 đến ngày 31/3/2023 và tiền lãi 44.901.844 đồng theo giấy xác nhận tiền lãi bổ sung từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/12/2023. Đối với số tiền lãi kể từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu về mức tính lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng), mức lãi suất này là phù hợp với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn: Tiền đặt cọc 598.145.000 đồng (1); Tiền lãi 26.154.505 đồng theo biên bản thanh lý và biên bản xác nhận khoản tiền lãi tính từ ngày 07/12/2022 đến ngày 31/3/2023 (2); T1 lãi 44.901.844 đồng theo giấy xác nhận tiền lãi bổ sung từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/12/2023 (3); tiền lãi từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử 26/3/2024 số tiền 14.122.868 đồng (4); tổng cộng 683.324.217 đồng [(1) + (2) + (3) + (4)] là phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002772 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 316/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 316/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
