|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 316/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/4/2024
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hai
Ông Nghiêm Xuân Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Mai Như Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 0880/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/3/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lý Lê Minh T, sinh năm 1981
Địa chỉ: B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Lý Lê Minh T có mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Ngọc P, sinh năm 1981
Địa chỉ: 8 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Vũ Ngọc P vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lý Lê Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Vũ Ngọc P đã tự nguyện kết hôn vào ngày 10/10/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau thời gian sống chung, chúng tôi đã xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 8/2012, sau khi sinh bé đầu tiên được 04 tháng thì ông P đi làm (lái xe) nhưng không thấy về tôi cũng không rõ nguyên nhân. Sau quá trình tìm hiểu từ đồng nghiệp công ty ông P, tôi được biết ông P đã đi trốn nợ do cờ bạc, cá độ. Sau khi biết được gia đình hai bên có đi tìm ông P về và gia đình tôi có trả nợ cho ông P. Sau đó ông P có đi làm lại nhưng vẫn chứng nào tật nấy. Gia đình tôi tiếp tục đứng ra trả nợ cho ông P rất nhiều lần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi khởi kiện ra Tòa án cho tôi được ly hôn với ông Vũ Ngọc P.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Có 02 con chung: Trẻ Vũ Lý Phúc M, sinh ngày 07/4/2012; trẻ Vũ Lý Xuân M1, sinh ngày 09/10/2017.
Khi ly hôn bà Lý Lê Minh T yêu cầu là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung trẻ Vũ Lý Phúc M, trẻ Vũ Lý Xuân M1 lần lượt đến đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con bà Lý Lê Minh T không yêu cầu ông Vũ Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Bà Lý Lê Minh T tự khai không có
- Bị đơn ông Vũ Ngọc P trình bày:
Ông Vũ Ngọc P vắng mặt không lý do (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan).
Tòa án tiến hành xác minh, niêm yết công khai các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, triệu tập để lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm tại nơi cư trú cuối cùng và trụ sở Ủy ban nhân dân Phường D, quận P, đồng thời Tòa án yêu cầu bà Lý Lê Minh T đăng B ba số báo liên tiếp và Tòa án đã đăng lên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao. Tuy nhiên, đến ngày xét xử không có tin tức hay phản hồi từ ông Vũ Ngọc P.
Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Vũ Ngọc P.
Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận ban hành công văn số 387/TAPN ngày 26/01/2024 xác minh tình trạng mâu thuẫn gia đình gửi cho Ủy ban nhân dân Phường D, quận P có nội dung: “Bà Lý Lê Minh T và ông Vũ Ngọc P hiện không còn chung sống với nhau tại địa chỉ trên. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa bà T và ông P, Ủy ban nhân dân Phường D, quận P không rõ vì không nhận đơn thư của ông P, bà T phản ánh mâu thuẫn gia đình”.
Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn bà Lý Lê Minh T trình bày ý kiến là giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông Vũ Ngọc P. Đối với các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn xác nhận đã nộp đầy đủ, không còn tài liệu, chứng cứ gì khác để nộp cho Tòa.
- Bị đơn ông Vũ Ngọc P vắng mặt không lý do (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố C phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Lê Minh T đối với ông Vũ Ngọc P, về con chung giao hai con chung trẻ Vũ Lý Phúc M, sinh ngày 07/04/2012; em Vũ Lý Xuân M1, sinh ngày 09/10/2017 cho bà Lý Lê Minh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, về cấp dưỡng nuôi con bà Lý Lê Minh T không yêu cầu; về tài sản và nợ chung Lý Lê Minh T tự khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Lý Lê Minh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Vũ Ngọc P, ông Vũ Ngọc P có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà H N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 93 ngày 10/10/2009 của Ủy ban nhân dân Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận cho bà Lý Lê Minh T và ông Vũ Ngọc P thể hiện đây là hôn nhân hợp pháp đúng pháp luật.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng là phải yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Lý Lê Minh T, ông Vũ Ngọc P không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục, tình cảm của bà Lý Lê Minh T dành cho ông Vũ Ngọc P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà Lý Lê Minh T yêu cầu ly hôn với ông Vũ Ngọc P là phù hợp với với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung giữa bà Lý Lê Minh T và ông Vũ Ngọc P: Có 02 con chung, trẻ Vũ Lý Phúc M, sinh ngày 07/4/2012; trẻ Vũ Lý Xuân M1, sinh ngày 09/10/2017. Hiện tại bà Lý Lê Minh T đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho bà Lý Lê Minh T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung lần lượt đến đủ 18 tuổi.
Ghi nhận việc bà Lý Lê Minh T tự nguyện không yêu cầu ông Vũ Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Bà Lý Lê Minh T tự khai không có.
[5] Về các vấn đề khác: Bà Lý Lê Minh T tự khai không có.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Lý Lê Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014);
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Lê Minh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Lê Minh T đối với ông Vũ Ngọc P.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 93 ngày 10/10/2009 của Ủy ban nhân dân Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận cho bà Lý Lê Minh T và ông Vũ Ngọc P không còn giá trị pháp luật).
2. Về con chung: Có 02 con chung.
2.1: Trẻ Vũ Lý Phúc M, sinh ngày 07/4/2012;
2.2: Trẻ Vũ Lý Xuân M1, sinh ngày 09/10/2017.
Giao cho bà Lý Lê Minh T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung trẻ Vũ Lý Phúc M, sinh ngày 07/4/2012; trẻ Vũ Lý Xuân M1, sinh ngày 09/10/2017 lần lượt đến đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận việc bà Lý Lê Minh T tự nguyện không yêu cầu ông Vũ Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của người đó. Người trực tiếp nuôi con chung và các thành viên khác trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về các vấn đề khác: Không có.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Lý Lê Minh T phải chịu. Nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lý Lê Minh T đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí tòa án số 0022392 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cao Cường |
Bản án số 316/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 316/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn Lý Lê Minh Thảo - Ngọc Phú
