Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 316/2024/HS-ST

Ngày: 20-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 281/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Thạch H (tên gọi khác: không có), sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Bị cáo không biết chữ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch D, sinh năm: 1967 và bà Trần Thu H1, sinh năm: 1969; Bị cáo có vợ tên Tôn Thị Hồng N, sinh năm 1995; con Thạch Thị Quỳnh L, sinh năm: không rõ; A, chị, em ruột: 04 người kể cả bị cáo.
  2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 29/4/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên Toà.

  3. Họ và tên: Trần Văn T (tên gọi khác: không có), sinh ngày 19/01/1997, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phol L1, sinh năm: 1971 và bà Lâm Thị N1, sinh năm: không rõ; Bị cáo có vợ Thạch Thị Mỹ N2, sinh năm: 1996; con tên Trần Quốc T1, sinh năm: 2017; A, chị, em ruột: 02 ngưởi kể cả bị cáo.
  4. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 29/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên Toà.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Doãn A, sinh năm: 1990; Địa chỉ: A, Tỉnh lộ 15, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt);
  2. Bà Cao Thị Hương S, sinh năm: 1946 (vắng mặt);
  3. Địa chỉ: 3 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Người làm chứng:

Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1992 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/4/2024, Thạch H điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507 chở Trần Văn T đi từ ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến phòng trọ của một người bạn (không rõ lai lịch) tại ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để nhậu với nhau. Sau khi nhậu xong, H rủ Nguyễn Thanh T2 sử dụng ma túy, T2 không đồng ý. H rủ Trần Văn T đi mua ma túy sử dụng, Thông đồng ý nhưng nói không có tiền, H nói sẽ mang chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu xanh sữa của H đang sử dụng đi cầm cố lấy tiền mua ma túy sử dụng, Thông đồng ý. H sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Redmi A2+ của H gọi vào số thuê bao di động 0386842381 gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý bán và bảo H đi đến gốc cây ven đường N gần ngã tư đường T - N thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy và để lại tiền, Hiệp đồng ý. Thỏa thuận xong, H giao chiếc xe mô tô biển số 51F8-8507 cho T điều khiển chở H ngồi giữa, T2 ngồi sau xe đi đến cửa hàng C tại địa chỉ số A Tỉnh lộ 15, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, H đưa chiếc điện thoại di động hiệu Redmi A2+ của H cho T mang vào cầm cố cho ông Lê Doãn A là chủ tiệm C1 được số tiền 500.000 đồng. T quay ra đưa số tiền 500.000 đồng cho H, sau đó H bảo T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H và T2 đi đến ngã tư đường T - N thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Thông đồng ý. Khi đến nơi H bước xuống xe rồi một mình đi đến gốc cây ven đường N nhặt gói ma túy do người bán để lại trước đó cất giấu vào túi quần và để lại số tiền 200.000 đồng. Khoảng 10 phút sau, H đi ra gặp T nói đi lấy bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, Thông đồng ý rồi điều khiến xe mô tô chở H, T2 đi về phòng trọ của T tại ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi T một mình đi vào phòng trọ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu vào túi quần của T đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở H đi tìm địa điểm đề sử dụng ma túy. Khi đi đến trước nhà số B đường N, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì T bị lực lượng tuần tra Công an xã T yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Lúc này, H thả từ trong tay trái 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể là chất ma tuý xuống đất để phi tang nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ. Cùng lúc đó, T ném 01 (một) gói nylon xuống đất, nhưng bị phát hiện, kiểm tra bên trong có 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thuy tinh và 01 (một) ống nhựa. Thạch Hiệp khai nhận gói nylon bên trong có chứa tinh thể là chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) của Thạch H mua của một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) với số tiền 200.000 đồng, mục đích để H và Trần Văn T cùng sử dụng chung, riêng Nguyễn Thanh T2 không đồng ý sử dụng ma túy chung với H, T. Trần Văn T khai nhận 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thuỷ tinh và 01 (một) ống nhựa là dụng cụ để T và H cùng sử dụng chung chất ma túy. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thạch H và Trần Văn T về hành vì Tàng trữ trái phép chất ma túy lúc 20 giờ 15 phút cùng ngày.

Tiền hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T tại ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Thạch H, Trần Văn T, Nguyễn Thanh T2 xác định: T dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp. H và T2 có kết quả âm tính (-) với chất ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số: 5274/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Thạch H và hình dầu Công an xã T, huyện C (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2437 (không phẩy hai bốn ba bảy gam), loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ của Thạch H:
    • + 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 5274/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
    • + 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507, số máy: LF1P53PMH- Y0008056, số khung: FT110-20008388.

Kết quả xác minh xe mô tô biển số 51F8-8507 do bà Cao Thị Hương S đứng tên chủ sở hữu. Năm 2009, bà S có đứng tên hộ xe mô tô biển số 51F8-8507 cho một người quen, do người này không có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2020, Thạch H có truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Zalo thảy có người đăng tin bán chiếc xe mô tô loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507 với giá 2.500.000 đồng nên Thạch H đã liên lạc hỏi mua chiếc xe này. Người bán (không nhớ rõ lai lịch) có giao xe và giấy đăng ký xe cho Thạch H nhưng trong quá trình sử dụng chiếc xe Thạch Hiệp đã làm mất giấy đăng ký xe.

Kết luận giám định số: 5520/KL-KTHS của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Xe mô tô biển số 51F8-8507 gửi giám định có:

  • - Trước giám định: số khung: ...110 *20008...✩; số máy: LF IP53FMH ☆Y0008056.
  • - Sau giám định số khung: FT110*2000838...✩, các ký tự tại vị trí đóng số máy "LF1P53FMH☆Y0008056☆" là số đóng mới.
  • Ghi chú: ký hiệu "..." là các ký tự bị rỉ sét không đọc được.
  • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu xanh sữa, kiểu máy: 23028RNCAG, đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của Thạch H sử dụng liên lạc mua ma túy.
  • - Thu giữ của Trần Văn T: 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa là dụng cụ để sử dụng ma túy.

Bản cáo trạng số: 258/CT-VKS-CC ngày 30 tháng 9 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Thạch H và bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

* Tại phiên toà:

Bị cáo Thạch H và bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng số: 258/CT-VKS-CC ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Thạch H và bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Đề nghị: Phạt bị cáo Thạch H từ 01 (một) năm tù 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Đề nghị: Phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về dân sự: Ông Lê Doãn A không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 500.000đồng, xét thấy phù hợp nên ghi nhận.

+ Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ: 5274/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507, số máy: LF1P53PMH-Y0008056, số khung: FT110-20008388; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu xanh sữa, kiểu máy: 23028RNCAG.

Bị cáo Thạch H tự bào chữa: Không.

Bị cáo Trần Văn T tự bào chữa: Không.

Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch H: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn T: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên Tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 28/4/2024, tại trước nhà số B, đường N, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Thạch H và Trần Trần Văn T có hành vi cất giấu 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, theo kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2437 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi của các bị cáo Thạch H, Trần Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cáo Thạch H và bị cáo Trần Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và cho chính người thân của các bị cáo. Hiện nay, ma túy đã trở thành tệ nạn trong xã hội mà hậu quả trực tiếp của việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy làm thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, hơn nữa ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác trong xã hội, gây tha hoá hư hỏng cho bộ phận thanh thiếu niên. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử lý các bị cáo bằng chế tài hình sự và có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo đã thực hiện mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[5] Các bị cáo khai nhận cùng nhau mua ma túy, chuẩn bị bộ dụng cụ nhằm mục đích sử dụng chất ma túy, nhưng chưa sử dụng thì bị Công an bắt giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

[6] Đối với Nguyễn Thanh T2, đi cùng các bị cáo nhưng không biết việc các bị cáo mua và cất giấu ma túy. Tại bản tường trình ngày 28/4/2024 và các biên bản ghi lời khai ngày 29/4/2024 đều thể hiện Nguyễn Thanh T2 chỉ biết bị cáo H kêu bị cáo T chở đi cầm điện thoại di động nên đi theo; tại biên bản ghi lời khai ngày 28/4/2024, bị cáo Thạch H khai không nói T2 biết việc đi mua và cất giấu ma túy. Do đo, không có căn cứ để cho rằng T2 biết việc các bị cáo H, T đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thanh T2 là phù hợp.

[7] Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo T hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập làm việc được Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh mà rõ xử lý sau.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[10] Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ: 5274/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa. Đây là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội và những vật cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507, số máy: LF1P53PMH- Y0008056, số khung: FT110-20008388 thu giữ của bị cáo Thạch H. Qua xác minh xe mô tô biển số 51F8-8507 do bà Cao Thị Hương S đứng tên chủ sở hữu, Bà S xác định năm 2009 có đứng tên giùm cho một người quen. Theo kết luận giám định thì số khung và số máy không trùng khớp với xe mô tô có biển số 51F8-8507 do bà S đứng tên chủ sở hữu, số máy là số đóng mới. Đây tài sản của bị cáo dùng việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu xanh sữa, kiểu máy: 23028RNCAG thu gữi của bị cáo Thạch H, bị cáo H sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[12] Đối với số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng bị cáo có được từ việc cầm điện thoại di động hiệu Redmi A2 cho ông Lê Doãn A. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ điện thoại di động hiệu Redmi A2, ông Lê Doãn A không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền trên nên ghi nhận.

[13] Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Thạch H và bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Xử phạt: Bị cáo Thạch H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 29/4/2024.

  3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 29/4/2024.

  5. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 5274/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (một) nắp nhựa có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI loại Wave màu xanh biển số 51F8-8507, số máy: LF1P53PMH-Y0008056, số khung: FT110-20008388; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu xanh sữa, kiểu máy: 23028RNCAG.
    • (Vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1413A/LNK-ĐTTH ngày 18/9/2024)
  6. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  7. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (07);
  • - VKSND huyện Củ Chi (02);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (09);
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 316/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 316/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Hiệp + ĐP - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger