Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 316/2024/HS-ST

Ngày: 13-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Viện.

Ông Nguyễn Quang Huy.

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đăng Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 295/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức L; sinh ngày 09 tháng 11 năm 1992 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L1, đã chết; và bà Phùng Thị H, sinh năm 1969; có vợ Hoàng Thị D, sinh năm 2000; có 01 con; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bắt ngày 19/6/2024, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc Đ; sinh ngày 07 tháng 5 năm 1995 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1970; và bà Chu Thị H1, sinh năm 1970; có vợ Bùi Thị T1, sinh năm 1999; chưa có con; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Anh Hà Sỹ Tuệ M, sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Anh Hoàng Hải L2, địa chỉ: Tổ F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bà Phùng Thị H, địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  • - Ông Nguyễn Đức L3, địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người làm chứng;

  • - Chị Hoàng Thị D, có mặt.
  • - Chị Đồng Thị Thanh P, vắng mặt.
  • - Chị Lê Thị T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 10/9/2023, sau khi đi uống rượu tại nhà của bạn tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Quốc Đ điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức L đi đến quán Ố (thuộc tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) để gặp chị Hoàng Thị D (sinh năm 2000, trú tại: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) là vợ của L để lấy chìa khoá cửa hàng mà L và chị D thuê. Tại quán ăn, Lưu biết chị D ăn cùng anh Hà Sỹ Tuệ M (sinh năm 1993, trú tại: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) và một số người khác là học viên của chị D. Sau khi lấy được chìa khoá phòng thì L và Đ ra về. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đến đón L sang nhà Đ để ngủ thì cả hai nhìn thấy anh M đang điều khiển xe mô tô chở theo chị D ngồi phía trước và chị Đồng Thị Thanh P (sinh năm 2005, trú tại: Thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) ngồi phía sau. Lúc này, do đã uống rượu và nghi ngờ anh M và chị D có quan hệ tình cảm với nhau nên L bảo Đ điều khiển xe đuổi theo và bảo Đ đánh cảnh cáo anh M thì Đ đồng ý. Khi anh M điều khiển xe dừng ở đối diện quán ốc Đ1 thì Đ điều khiển xe vượt lên và dừng xe ở bên trái xe của anh M. Lúc này, Lưu lập T3 dùng tay phải đấm vào mặt anh M khoảng 3 - 4 cái rồi dùng chân đạp vào xe của anh M khiến xe đổ ra đường làm anh M bị ngã theo. Bị ngã ra, anh M đứng dậy nói “Anh ơi sao lại đánh em” nhưng Lưu không nói gì. Sau đó, L lao vào trên tay cầm mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen đập nhiều cái vào đầu anh M khiến anh M nằm dưới đất thì

cả L và Đ dùng chân, tay đánh vào người anh M nhiều cái. Thấy anh M bị đánh thì anh Hoàng Hải L2 (sinh năm 1993, trú tại: Tổ F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) là bạn của anh M điều khiển xe chở theo chị Lê Thị T2 (sinh năm 2000, trú tại: Thôn X, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn) đi đến. Anh L2 vào can ngăn thì bị L và Đ quay sang dùng tay đấm vào người và L dùng mũ bảo hiểm đánh vào tay của anh L2. Thấy anh L2 bị đánh nên anh M vào can thì Đ cầm gạch ở lề đường đuổi anh M bỏ chạy sang bên đối diện đường và đập 01 phát sượt vào phần gáy của anh M làm rách phía sau gáy chảy máu. Lúc này, Đ đạp 01 cái vào người anh M làm anh M ngã ra đất. Sau đó, mọi người vào căn ngăn thì L và Đ lên xe mô tô bỏ đi, còn anh M đến Bệnh viện A điều trị.

Hậu quả: Anh Minh bị 01 vết thương chảy máu vùng chẩm phải dài 1,5cm; vùng mắt phải có vết xước da, rớm máu; vỡ thành trước xoang hàm phải. Anh L2 bị 01 vết xước tại vùng lông mày mắt trái dài 01cm.

Ngày 11/9/2023, anh M làm đơn trình báo đến Công an phường T, thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Đến ngày 22/8/2024, Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 887/KLTTCT-TTPY, ngày 19/10/2023, của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận:

Các kết quả chính: Sẹo vùng chẩm phải, tỷ lệ 1%; sẹo vùng mắt phải, tỷ lệ 3%; vỡ thành trước xoang hàm phải, tỷ lệ 7%; cộng 1% +3% + 7% = 11%. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Sỹ Tuệ M tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 888/KLTTCT-TTPY, ngày 16/10/2023, của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận:

Các kết quả chính: Hiện không còn dấu vết của thương tích. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Hải L2 tại thời điểm giám định là: 0% (Không phần trăm).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức L, Nguyễn Quốc Đ đã khai nhận hành vi đã thực hiện như nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định thương tích và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 viên gạch màu đỏ, làm từ đất nung, kích thước (21x8,6x5,7)cm; 01 viên gạch màu xám, dạng gạch xi, kích thước (15x10x12x5,8)cm; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu, màu đen, có in chữ Puma, đỉnh mũ bị vỡ phần nhựa khoảng 7,5cm. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Cáo trạng số 297/CT-VKSTPTN ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L, Nguyễn Quốc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L, Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo L từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; bị cáo Đ từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách. Ghi nhận sự thỏa thuận về trách nhiệm dân sự của các bị cáo đối với bị hại đã thực hiện xong; phần bồi thường dân sự đối với anh L2 giải quyết trong vụ án khác khi anh L2 có yêu cầu; xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận.

Nói lời sau cùng, các bị cáo đều xin lỗi bị hại M, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa được Tòa án triệu tập: Tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập; việc Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng

không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293, 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. [3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức L, Nguyễn Quốc Đ khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở xác định:

    Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10/9/2023, tại đường Đ Thái Nguyên thuộc tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đức L, Nguyễn Quốc Đ có hành vi dùng tay, chân, sử dụng mũ bảo hiểm nhựa và gạch gây thương tích cho anh Hà Sỹ Tuệ M và anh Hoàng Hải L2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Hà Sỹ Tuệ M là: 11% (Mười một phần trăm) và anh Hoàng Hải L2 là 0% (Không phần trăm).

    Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

    “ 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

    a) Dùng ... hung khí nguy hiểm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 năm đến 06 năm

    ...

    đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

  2. [4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của người khác, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo L khởi xướng; bị cáo L và bị cáo Đ đều tham gia với vai trò người thực hành trực tiếp gây thương tích cho bị hại.

  3. [5] Về nhân thân: Các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

  4. [6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

6.1. Tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Đ được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Đ đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú, bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo L được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo L đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

6.2. Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

  1. [7] Về hình phạt: Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất và mức độ tham gia của từng đồng phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Bị cáo L, Đ đều chưa có tiền án tiền sự, là người có nhân thân tốt; các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Ngoài ra, bị cáo L có bố đã chết, mẹ bị tai biến liệt 1/2 người phải, không có khả năng lao động kiếm sống, phải phụ thuộc vào bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận. Xét thấy không cần phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  2. [8] Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    8.1. Xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch màu đỏ làm từ đất nung, kích thước (21 x 8,6 x 5,7)cm; 01 viên gạch màu xám dạng gạch xi, kích thước (15 x 10 x 12 x 5,8)cm; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu, màu đen, có in chữ Fuma, đỉnh mũ bị vỡ phần nhựa khoảng 7,5cm.

    8.2. Bồi thường thiệt hại:

  • - Bị cáo Đ đã bồi thường cho anh M số tiền 16.000.000đ, anh M đã nhận đủ. Đại diện gia đình bị cáo L đã bồi thường cho anh M số tiền 20.000.000đ, trong đó 17.000.000đ đã nhận đủ và 3.000.000đ gia đình bị cáo L đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000814 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong, anh M nhất trí với mức bồi thường của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chuyển số tiền 3.000.000₫ gia đình bị cáo L đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự cho anh M theo quy định.

  • Bà H, anh L3 là mẹ đẻ và anh trai bị cáo L đã đại diện gia đình bồi thường thay cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • - Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L2 đề nghị bị cáo L, bị cáo Đ bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần theo quy định của pháp luật. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 888/KLTTCT-TTPY ngày 16/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh L2 tại thời điểm giám định là 0%. Đồng thời anh L2 cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại. Do chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự nên vấn đề này sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi anh L2 có yêu cầu.

  1. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

  2. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

  3. [11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L và Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đức L cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Nguyễn Đức L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Áp dụng Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Đức L, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 24 (hai mươi bốn)tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Quốc Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Biện pháp tư pháp:

    2.1. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch màu đỏ làm từ đất nung, kích thước (21 x 8,6 x 5,7)cm; 01 viên gạch màu xám dạng gạch xi, kích thước (15 x 10 x 12 x 5,8)cm; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu, màu đen, có in chữ Fuma, đỉnh mũ bị vỡ phần nhựa khoảng 7,5cm (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 21 ngày 30/10/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

    2.2. Bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Đ đã bồi thường số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng), gia đình bị cáo L đã bồi thường số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho bị hại M. Anh M được nhận số tiền bị cáo L bồi thường 3.000.000đ (ba triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000814 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  2. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo bản án: Áp dụng điều 331, điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đối với các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Linh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Xuân Viện – Nguyễn Quang Huy

Phạm Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 316/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 316/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger