TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 316/2024/HSST Ngày 04/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Hiền.
Ông Nguyễn Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền, Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, điểm cầu tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 272/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN BÁ D, sinh năm 1986; tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Bá T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D1; có vợ là Bùi Thị H (đã ly hôn) chưa có con; theo danh chỉ bản số [...] ngày 07/06/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền sự; tiền án: 03 tiền án: + Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 122/2017/HSST ngày 16/6/2017 của Toà án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2018; + Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2021/HSST ngày 08/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; + Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 187/2021/HSST ngày 21/6/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 17/2021 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai là 33 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/7/2023 (chưa xoá án tích); Nhân thân: Ngày 08/10/2015, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (đã nộp tiền phạt); Ngày 15/9/2017, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (đã nộp tiền phạt); Bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/06/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1965.
Hiện trú tại: thôn M, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Anh Bùi Đình T1, sinh năm 1976.
Hiện trú tại: thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 11/2023, Nguyễn Bá D đăng ký điều trị cai nghiện chất ma tuý bằng phương pháp uống thuốc Methadone (dạng lỏng) tại Trung tâm K ở thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội.
Trong các ngày 03 và 04/6/2024, Nguyễn Bá D đến trung tâm K để uống Methadone. Sau mỗi lần uống, D không nuốt mà ngậm lại Methadone trong miệng, sau khi ra khỏi cổng trung tâm thì D nhổ số Methadone trên vào trong chai nhựa nhãn hiệu không độ nhằm mục đích để có ai hỏi mua thì D bán lại kiếm lời.
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/6/2024, khi D đang ngồi quán nước tại trước Trung tâm K thì có Bùi Đình T1 gọi điện thoại từ số 0328.138.xxx đến số điện thoại 0339.994.xxx của D. Qua điện thoại, T1 đặt vấn đề mua ma tuý Methadone của D với giá 500.000 đồng. D đồng ý và hẹn gặp T1 tại đường Q, tổ B, phường P, quận H, Hà Nội để mua bán ma tuý. Sau khi thỏa thuận, D cầm chai nhựa nhãn hiệu không độ, bên trong chứa chất lỏng màu hồng là M cất vào bên trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 29X7-164.96 của D và điều khiển xe máy đến phường P, quận H, Hà Nội gặp T1. Đến khoảng 12 giờ 40 phút, khi đến trước cửa số nhà H, đường Q, tổ B, phường P, quận H, Hà Nội thì thấy T1 đang đứng tại đó. Cùng lúc này, D dừng xe thì bị tổ công tác Công an phường P kiểm tra, phát hiện, thu giữ người cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ của Nguyễn Bá D: 01(một) chai nhựa nhãn hiệu “Không độ” bên trong chứa chất lỏng màu hồng, nghi là ma túy; 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ, BKS 29X7- 164.96, số máy 6028283, số khung: 010070; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, bên trong lắp sim số 0339994492, đã qua sử dụng.
Thu giữ của Bùi Đình T1: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, bên trong lắp sim số 0328138595, đã qua sử dụng và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (loại tiền Ngân hàng N đang lưu hành).
Ngày 05/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bá D nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại kết luận giám định số 4199 ngày 13/6/2024 của phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận: “Chất lỏng màu hồng bên trong 01 chai nhựa nhãn hiệu không độ có ma tuý loại Methadone, thể tích 32 ml”.
Tại bản kết luận giám định số 5481/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của V - Bộ C, kết luận: “Nồng độ Mehtadone trong mẫu chất lỏng màu hồng, gửi giám định là 3,090mg/mL, khối lượng Methadone trong 19,0 mL mẫu là 0,058 gam”.
Tại bản cáo trạng số 264/CT-VKS-HĐ ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Bá D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Bá D về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Bá D.
Xử phạt: Nguyễn Bá D từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
* Xử lý vật chứng:
Tuyên trả lại bà Nguyễn Thị D1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 29X7-164.96, số máy JC52E6028283, số khung 5252DY010070.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 500.000 đồng.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, bên trong lắp sim số 0339994492, đã qua sử dụng và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, bên trong lắp sim số 0328138595, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H1 và cán bộ công an Lê Xuân T2 (bên trong có ma túy Methadone).
Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 04/6/2024, tại trước cửa nhà số H, đường Q, thuộc tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý công an quận H phối hợp với công an phường P trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Bá D có hành vi cất giấu chai nhựa “Không độ” bên trong chứa chất lỏng là ma tuý loại Methadone, thể tích 32 ml bán trái phép cho Bùi Đình T1 để lấy số tiền 500.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện và bắt quả tang người cùng tang vật. Do nhân thân của D có 03 tiền án chưa được xoá, lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, đây là các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Nguyễn Bá D bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi D nhận thức rõ ma túy là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn tàng trữ và bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy mà nó còn góp phần làm gia tăng tệ nạn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm và các bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Theo hồ sơ phản ánh thì bị cáo D có 03 tiền án chưa được xoá. Nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự thì các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không coi là tình tiết tăng nặng, theo đó lần phạm tội này của bị cáo D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ án bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa bị cáo đều đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo có 03 tiền án và 02 tiền sự. Điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà ngày càng lao sâu vào con đường tái phạm tội. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với D. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo D.
Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra đã làm rõ được số ma tuý M bị lực lượng công an thu giữ là do D đi uống Methadone tại Trung tâm K tại thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội vào sáng các ngày 03/6/2024 và ngày 04/6/2024. Sau mỗi lần uống, D không nuốt mà ngậm trong miệng rồi ra bãi đất trống bên ngoài trung tâm nhổ lại số ma tuý Methadone vào trong chai nhựa “Không độ” để xem có ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Việc D lấy được M từ trung tâm kiểm soát bệnh tật rồi mang ra khỏi trung tâm để bán thì cán bộ, y bác sỹ trung tâm hoàn toàn không biết, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với Bùi Đình T1 là người hỏi mua ma tuý của Nguyễn Bá D. Tại thời điểm cơ quan điều tra bắt quả tang, T1 chưa nhận được ma tuý của D, chưa thanh toán tiền cho D, vì vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H chưa có căn cứ xử lý T1 trong vụ án này là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 29X7-164.96, số máy JC52E6028283, số khung 5252DY010070 thu của D. Quá trình điều tra đã làm rõ được: Đăng ký xe mang tên anh Bùi Ngọc D2 (sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: thôn M, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan điều tra anh D2 trình bày: đã bán chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị D1 là mẹ đẻ của D vào tháng 8/2023. Bà D1 trình bày: Ngày 04/06/2024, bà D1 cho D mượn chiếc xe máy trên nhưng bà D1 không biết D sử dụng vào việc phạm tội, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do đó, cần tuyên trả lại cho bà D1 chiếc xe trên để bà D1 quản lý và sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, bên trong lắp sim số 0339994492, đã qua sử dụng, thu của D; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, bên trong lắp sim số 0328138595, đã qua sử dụng và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (loại tiền Ngân hàng N đang lưu hành) thu của Bùi Đình T1. Quá trình điều tra đã làm rõ được D, T1 đã sử dụng số tiền 500.000 đồng và những chiếc điện thoại này vào liên hệ, trao đổi mua bán ma túy, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
01 hộp niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H1 và cán bộ công an Lê Xuân T2 (bên trong có ma túy Methadone). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Bá D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/06/2024.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106; khoản 2 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
+ Về xử lý vật chứng:
Tuyên trả lại bà Nguyễn Thị D1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 29X7-164.96, số máy JC52E6028283, số khung 5252DY010070 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, bên trong lắp sim số 0339994492, đã qua sử dụng và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, bên trong lắp sim số 0328138595, đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 500.000 đồng (theo ủy nhiệm chi giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông ngày 11/10/2024).
Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H1 và cán bộ công an Lê Xuân T2 (bên trong có ma túy Methadone), theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bá D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị D1 và anh Bùi Đình T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Hồng Lý |
Bản án số 316/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 316/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá D
