|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 316/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 8 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Hòa và ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa : Không.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 311/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Dương Thị Kiều T, sinh ngày 13/8/2002. Nơi cư trú: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
Người được nguyên đơn ủy quyền giao, nhận các tài liệu: chị Nguyễn Thị H. Địa chỉ: xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: anh Quế Đình Đ, sinh ngày 16/6/1993. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: số A, ngõ H, đường số A D, D, quận G, thành phố Đ, Đài Loan. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Dương Thị Kiều T như sau:
Chị Dương Thị Kiều T và anh Quế Đình Đ tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 11 tháng 01 năm 2022. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Năm 2023 anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cuộc sống vợ chồng xa cách nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, nếu kéo dài sẽ làm cả hai bên mệt mỏi. Để ổn định cuộc sống cho cả hai, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quế Đình Đ.
Về con chung: chị T, anh Đ có 01 con chung Quế Ngọc Á, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2022. Ly hôn, chị T và anh Đ thống nhất: chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; Anh Đ có trách trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng, cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, đề ngày 27/6/2024, bị đơn – anh Quế Đình Đ trình bày (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ): anh Quế Đình Đ thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị Dương Thị Kiều T đã trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Do tính tình và quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, cuộc sống xa cách nên thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Anh Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị T không còn, nên chị T xin ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: anh Đ và chị T có 01 con chung Quế Ngọc Á, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2022. Ly hôn, anh Đ đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Đ có trách trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng, cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: anh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa theo qui định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Về thẩm quyền: nguyên đơn - chị Dương Thị Kiều T và bị đơn - anh Quế Đình Đ có địa chỉ cư trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay của anh Đ: số A, ngõ H, đường số A D, D, quận G, thành phố Đ, Đài Loan, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì anh Đ đang ở nước ngoài, có yêu cầu không tiến hành hòa giải theo qui định tại khoản 2 và khoản 4 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân,
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Dương Thị Kiều T, vì lý do sức khỏe nên không có mặt để tham gia phiên tòa và đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
Đối với bị đơn: căn cứ đơn xin vắng mặt đề ngày 27/6/2024 của anh Quế Đình Đ (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), thể hiện: vì công việc làm ăn xa ở nước ngoài, nên anh không thể về Việt Nam giải quyết vụ án được, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 11/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Kiều T và anh Quế Đình Đ là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Đ, chị T chung sống hạnh phúc. Sau thời gian chung sống thì chị T, anh Đ phát sinh mâu thuẫn. Năm 2023 anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cuộc sống vợ chồng xa cách, tình tình lại không hợp nhau, kéo dài cuộc sống hôn nhân sẽ làm cả hai bên mệt mỏi. Chị T yêu cầu ly hôn, anh Đ đồng ý. Xét tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Dương Thị Kiều T và anh Quế Đình Đ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Dương Thị Kiều T ly hôn anh Quế Đình Đ.
2.2. Về con chung: chị Dương Thị Kiều T và anh Quế Đình Đ có 01 con chung Quế Ngọc Á, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2022. Chị T và anh Đ đã thỏa thuận chị T nuôi dưỡng con chung; anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 3.000.000đ đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Xét: sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái qui định pháp luật và đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Kiều T, anh Quế Đình Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Dương Thị Kiều T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Kiều T.
1. Về hôn nhân: chị Dương Thị Kiều T được ly hôn anh Quế Đình Đ.
2. Về con chung: ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Giao chị Dương Thị Kiều T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Quế Ngọc Á, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2022 đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng: anh Quế Đình Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu) đồng, việc cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Quế Ngọc Á đủ 18 tuổi, trưởng thành hoặc đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí: chị Dương Thị Kiều T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012987 ngày 02/7/2024.
Anh Quế Đình Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Dương Thị Kiều T, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Quế Đình Đ, đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 316/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 316/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
