|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 316/2024/HS-ST Ngày: 10/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Phụng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 281/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 341/2024/QĐXXST–HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: không có; nơi ở: 6 N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc L; chưa có chồng con; tiền án: - Bản án số 29/2021/HS-ST ngày 24/02/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023, thi hành xong án phí ngày 29/9/2022; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày: 07/12/2023. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 07/12/2023, Công an kiểm tra hành chính phòng trọ số 14, nhà số F N, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Thị H thuê ở. Tại thời điểm kiểm tra, có H, Lê Trung H2 và Đinh Thị Tuyết M, là bạn của H. Kết quả kiểm tra phát hiện trên bàn gỗ có 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật, bên trong có: 02 gói nylon chứa ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế nên Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra chứng minh được: Vào ngày 06/12/2023, Nguyễn Thị H sử dụng mạng xã hội Facebook tìm mua ma túy tại nhóm kín tên Thuy T thì được một người phụ nữ sử dụng tài khoản Facebook tên Thùy P (không rõ lai lịch) gọi điện thoại để trao đổi mua bán ma túy với H. Người phụ nữ tên Thùy P sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau để liên lạc với H và sau khi mua ma túy xong H đều xóa lịch sử điện thoại và tin nhắn. H đặt mua 1.000.000 đồng ma túy và người phụ nữ tên Thùy P hẹn H đến trước địa chỉ 1 D Q, Phường E, quận G, để giao ma túy. Sau đó, H thuê xe G chở đến điểm hẹn, có một người phụ nữ đến gặp, H đưa 1.000.000 đồng tiền mặt và người phụ nữ đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 02 gói nylon chứa ma túy, đồng thời cho H thêm 01 gói ma túy Ketamine để sử dụng thử. H mang số ma túy trên về phòng trọ của mình thuê và đã lấy gói ma túy Ketamine sử dụng hết; 02 gói ma túy còn lại H cất giấu trong hộp giấy màu xanh để trên bàn, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, bạn của H là Thị Mỹ D có đến chơi và ngủ lại. Sáng ngày 07/12/2023, D thấy H còn ngủ nên đã khóa cửa ngoài rồi đi công việc. Khi Hà thức dậy thấy cửa bị khóa không ra ngoài được, gọi điện thoại cho D không liên lạc được nên H gọi điện thoại nhờ bạn là Lê Trung H2 đến phòng trọ mở cửa giúp. H2 điều khiển xe chở theo bạn là Đinh Thị Tuyết M đến phòng trọ của H, H đưa khóa nhà qua cửa sổ để H2 mở cửa và mời cả hai vào nhà ngồi chơi. Trong lúc ngồi chơi thì bị Công an kiểm tra hành chính bắt, giữ.
Kết luận giám định số 13690/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H và hình dấu của Công an phường B, thành phố T là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,9153 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 3,9153 gam.
- 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật bên trong đựng 02 dao cắt giấy, 02 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt bị hư, 05 bịch nylon rỗng không chứa gì.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình nhựa được đục 02 lỗ tròn trên nắp, gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh có một đầu hình phễu.
- 01 hộp giấy màu đen chữ nhật bên trong có: 01 cân điện tử màu đen, 02 hộp quẹt gas bị hư, 01 dao cắt giấy, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rỗng màu đen không chứa gì, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rông màu trăng không chứa gì, 01 ống hút nhựa màu xanh một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn.
- 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đen có gắn sim số 0706005030.
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có gắn sim số 0768690130.
Tại Bản Cáo trạng số 286/CT-VKSTPTĐ ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị H phù hợp với lời khai của người làm chứng; vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và các biên bản hoạt động điều tra khác... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 07/12/2023, tại phòng trọ số A, nhà số F N, khu phố B, phường B, thành phố T, Công an phát hiện bị cáo Nguyễn Thị H tàng trữ ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo mua ma túy của người phụ nữ tên Thùy P (không rõ lai lịch) tại đường D, Phường E, quận G với giá 1.000.000 đồng, người này đưa cho bị cáo 02 gói nylon chứa ma túy và 01 gói ma túy loại Ketamine để dùng thử. Bị cáo đã sử dụng gói Ketamine, còn 02 gói cất trong hộp giấy màu xanh thì bị phát hiện, bắt giữ.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Theo kết luận giám định thì số ma túy thu giữ được của bị cáo có khối lượng là 3,9153 gam, loại Methamphetamine. Do đó, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 29/2021/HS-ST ngày 24/02/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định như trên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với người phụ nữ tên Thùy P, bán ma túy cho bị cáo, đến nay chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với Thị Mỹ D, Lê Trung H2 và Đinh Thị Tuyết M không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, không sử dụng ma túy với bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.
[3]. Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 13690(2685)/23, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật bên trong đựng 02 dao cắt giấy, 02 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt bị hư, 05 bịch nylon rỗng không chứa gì.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình nhựa được đục 02 lỗ tròn trên nắp, gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh có một đầu hình phễu.
- 01 hộp giấy màu đen chữ nhật bên trong có: 02 hộp quẹt gas bị hư, 01 dao cắt giấy, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rỗng màu đen không chứa gì, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rỗng màu trắng không chứa gì, 01 ống hút nhựa màu xanh một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn.
- 01 cân điện tử màu đen.
Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đen có gắn sim số 0706005030.
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có gắn sim số 0768690130.
Bị cáo sử dụng 02 điện thoại này để tìm kiếm, liên lạc mua ma túy sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 13690(2685)/23, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật bên trong đựng 02 dao cắt giấy, 02 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt bị hư, 05 bịch nylon rỗng không chứa gì.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình nhựa được đục 02 lỗ tròn trên nắp, gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh có một đầu hình phễu.
- 01 hộp giấy màu đen chữ nhật bên trong có: 02 hộp quẹt gas bị hư, 01 dao cắt giấy, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rỗng màu đen không chứa gì, 01 bịch nylon đựng 10 bịch nylon rỗng màu trắng không chứa gì, 01 ống hút nhựa màu xanh một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn.
- 01 cân điện tử màu đen.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đen có gắn sim số 0706005030.
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có gắn sim số 0768690130.
(Phiếu nhập kho số NK24/287C ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 316/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 316/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
