Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 316/2024/DS-PT

Ngày 15 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hụi

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Lập

Bà Đinh Cẩm Đào

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp hụi.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 229/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lư Văn T1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh C ..

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện P, tỉnh C ..

- Bị đơn: 1. Ông Quách Văn T2, sinh năm 1986 (có mặt).

2. Bà Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, ông Lư Văn T1 do người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Ngọc A trình bày: Ông Lư Văn T1 có tham gia chơi hụi do ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N làm chủ cụ thể như sau: Hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng mở một lần, hụi mở ngày 10/12/2021 âm lịch, gồm 60 chân, ông T1 tham gia 01 chân, ông T1 đã đóng được 22 kỳ thì ông T2 và bà N tuyên bố đình hụi. Do đó ông T1 yêu cầu ông T2 và bà N phải trả cho ông số tiền hụi của 22 kỳ x 3.000.000 đồng = 66.000.000 đồng. Ông T1 đồng ý trừ tiền hoa hồng cho ông T2, bà N là 1.800.000 đồng, ông T1 yêu cầu ông T2 và bà N phải trả 64.200.000 đồng.

Bị đơn, ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N trình bày: Ông, bà thừa nhận vợ chồng ông, bà có mở hụi 3.000.000 đồng mỗi tháng mở một lần, hụi được mở ngày 10/12/2021 âm lịch, gồm 60 chân, ông T1 tham gia 01 chân, ông T1 đã đóng được 22 kỳ như ông T1 trình bày, tổng số tiền hụi ông T1 đóng vào 22 kì là 30.369.000 đồng. Cụ thể kỳ thứ 01 đóng số tiền 2.400.000 đồng, kỳ thứ 02 đóng số tiền 1.760.000 đồng, kỳ thứ 03 đóng số tiền 1.650.000 đồng, kỳ thứ 04 đóng số tiền 1.570.000 đồng, kỳ thứ 05 đóng số tiền 1.520.000 đồng, kỳ thứ 06 đóng số tiền 1.440.000 đồng, kỳ thứ 07 đóng số tiền 1.390.000 đồng, kỳ thứ 08 đóng số tiền 1.360.000 đồng, kỳ thứ 09 đóng số tiền 1.480.000 đồng, kỳ thứ 10 đóng số tiền 1.380.000 đồng, kỳ thứ 11 đóng số tiền 1.320.000 đồng, kỳ thứ 12 đóng số tiền 1.280.000 đồng, kỳ thứ 13 đóng số tiền 1.194.000 đồng, kỳ thứ 14 đóng số tiền 1.190.000 đồng, kỳ thứ 15 đóng số tiền 1.210.000 đồng, kỳ thứ 16 đóng số tiền 1.250.000 đồng, kỳ thứ 17 đóng số tiền 1.330.000 đồng, kỳ thứ 18 đóng số tiền 1.130.000 đồng, kỳ thứ 19 đóng số tiền 1.120.000 đồng, kỳ thứ 20 đóng số tiền 1.150.000 đồng, kỳ thứ 21 đóng số tiền 1.125.000 đồng, kỳ thứ 22 đóng số tiền 1.120.000 đồng. Đến tháng 09/2023 thì ông, bà tuyên bố đình hụi do có 07 hụi viên đã hốt hụi nhưng không đóng hụi chết mà chỉ 15 hụi viên đóng hụi chết theo thỏa thuận sau khi hốt hụi mỗi hụi viên phải đóng mỗi tháng 3.000.000 đồng/chân hụi đã hốt. Do đó, ông bà không có khả năng trả tiền hụi lại cho những hụi viên chưa hốt hụi trong đó có ông T1. Sau khi đình hụi thì ông, bà có mời các hụi viên thoả thuận và các hụi viên đồng ý cho ông bà thanh toán lại số tiền mà ông, bà đã gom được tiền hụi của 15 hụi viên đã hốt hụi với số tiền phải trả cho mỗi chân hụi chưa hốt là 45.000.000 đồng nhưng trả theo số thứ tự bốc thăm và sẽ được trả hàng tháng. Đối với 7 hụi viên đã hốt hụi nhưng không nộp hụi cho ông, bà thì ông bà không trả. Việc thỏa thuận này có ông T1 và một số người không đồng ý. Hiện nay mỗi tháng ông, bà vẫn gom 15 chân hụi mà các hụi viên đã hốt với số tiền 3.000.000 đồng/chân hụi bằng 45.000.000 đồng để trả cho những người đồng ý thỏa thuận bốc thăm khi đình hụi. Nay ông bà không đồng ý thanh toán cho ông T1 số tiền 64.200.000 đồng, mà đồng ý thanh toán cho ông T1 theo số tiền thực đóng là 30.369.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo từng kỳ đóng hụi đến ngày 30/3/2024, tổng số tiền vốn và lãi hụi là 39.758.754 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lư Văn T1. Buộc ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Lư Văn T1 số tiền hụi 64.200.000 đồng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 22/5/2024, ông Quách Văn T2 là bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, ông T2 chỉ chấp nhận trả cho ông T1 tổng số tiền hụi và lãi hụi là 39.758.754 đồng

2

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Quách Văn T2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận cho rằng: Trong số 22 chân hụi do các hụi viên đã hốt hụi thì mỗi tháng ông T2 và bà N chỉ gom được tiền hụi của 15 chân hụi bằng 45.000.000 đồng, còn lại 7 chân hụi do hụi viên không nộp hụi nên ông T2 không đồng ý trả đủ tiền hụi cho ông T1 theo yêu cầu của ông T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Quách Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Quách Văn T2, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T2 thừa nhận ông T1 có tham gia chơi hụi do ông T2, bà N làm chủ, loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, dây hụi gồm có 60 chân, ông T1 tham gia 01 chân, đã đóng được 22 kỳ thì hụi thì ông T2, bà N tuyên bố đình hụi. Ông T2 cho rằng số tiền hụi ông T1 đã nộp vào 22 kỳ với tổng số tiền là 30.369.000 đồng nên ông T2 chỉ đồng ý trả lại cho ông T1 số tiền là 30.369.000 đồng và tiền lãi hụi của từng kỳ hụi do ông T1 đóng vào theo lãi suất Nhà nước. Tuy nhiên, ông T2 vẫn thừa nhận nếu ông T2 và bà N không đình hụi thì khi đến ông T1 hốt hụi, ông T1 sẽ được nhận mỗi kỳ nộp hụi bằng 3.000.000 đồng từ những hụi viên đã hốt hụi đóng vào và khi giao tiền hụi cho ông T1 thì ông T2 và bà N sẽ được hưởng tiền hoa hồng là 1.800.000 đồng. Như vậy ông T1 nộp hụi cho ông T2 và bà N được 22 kỳ thì nếu ông T1 hốt hụi ông T1 sẽ được nhận 66.000.000 đồng, trừ 1.800.000 đồng tiền hoa hồng thì ông T2 và bà N phải giao cho ông T1 64.200.000 đồng. Ông T2 thừa nhận, sau khi đình hụi cho đến nay, mỗi tháng ông T2 và bà N cũng đã gom hụi của những hụi viên đã hốt hụi mỗi chân hụi là 3.000.000 đồng, tổng số tiền hụi ông T2 và và Nang đã gom được 15 chân hụi do các hụi viên đã hốt hụi bằng 45.000.000 đồng. Còn lại 7 chân hụi do các hụi viên không nộp hụi nên ông T2 và bà N không gom được tiền hụi. Như vậy, mặc dù ông T2 và bà N đình hụi nhưng số tiền ông T2 và bà N gom hụi của những hụi viên đã hốt hụi mỗi chân hụi đã hốt mỗi tháng 3.000.000 đồng là bằng với số tiền hụi mà ông T2 và bà N thỏa thuận khi chơi hụi là phải trả tiền hụi cho các hụi viên chưa hốt hụi mỗi kỳ là 3.000.000 đồng. Do đó ông T1 yêu cầu ông T2 và bà N phải trả tiền hụi cho ông T1 tổng số tiền đã nộp 22 kỳ bằng 66.000.000 đồng, ông T1 đồng ý trừ tiền hoa hồng cho ông T2 và bà N 1.800.000 đồng nên ông T1 yêu cầu ông T2 và bà N trả 64.200.000 đồng là phù hợp.

[2] Ông T2 cho rằng đối với 7 chân hụi đã hốt do các hụi viên không nộp hụi hàng tháng cho ông T2 và bà N nên ông T2 không đồng ý trả tiền cho ông T1 là không có cơ sở, do ông T2 và bà N làm chủ hụi, khi gom hụi của những hụi viên đã hốt giao cho những hụi viên khác khi hốt hụi thì ông T2 và bà N được hưởng hoa hồng nên nếu các hụi viên đã hốt hụi nhưng không nộp hụi thì ông T2 và bà N có quyền khởi kiện để yêu cầu các hụi viên nộp hụi. Do đó, ông T2 kháng cáo cho rằng do có 07 chân hụi do các hụi viên đã hốt hụi nhưng không nộp hụi nên ông T2 không đồng ý trả tiền hụi cho ông T1 là không được chấp nhận.

3

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2 tranh luận cho rằng việc ông T2 và bà N tuyên bố bể hụi là do các hụi viên đã hốt hụi không nộp hụi cho ông T2 và bà N nên ông T2 và bà N chỉ chấp nhận trả cho ông T1 số tiền hụi đã nộp vào là 30.369.000 đồng và trả phần tiền lãi theo lãi suất Nhà nước là không có cơ sở. Do đó, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T1 là phù hợp.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông T2 không được chấp nhận nên ông T2 phải chịu theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Quách Văn T2.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Tuyên xử

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lư Văn T1. Buộc ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Lư Văn T1 số tiền hụi 64.200.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N liên đới chịu số tiền 3.210.000 đồng.

- Ông Lư Văn T1 đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 1.650.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003182 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, ông T1 được nhận lại toàn bộ.

4

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Quách Văn T2 phải chịu 300.000 đồng, ngày 22/5/2024 ông T2 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003532 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập Bùi Thị Phương Loan
Đinh Cẩm Đào

5

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi Cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Phương Loan

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 316/2024/DS-PT ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 316/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lư Văn T1. Buộc ông Quách Văn T2 và bà Trần Thị Cẩm N liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Lư Văn T1 số tiền hụi 64.200.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger