Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 01-4-2025

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thanh Loan
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1604/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thụy Minh P, sinh năm 1982;

Địa chỉ thường trú: 3/3 ấp T (nay là ấp B), xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Trương Minh Y, sinh năm 1979;

Địa chỉ thường trú: 3/3 ấp T (nay là ấp B), xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: A ấp A xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thụy Minh P trình bày:

Bà Nguyễn Thụy Minh P và ông Trương Minh Y tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 183-KH, quyển số 01/2009 do UBND xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2009.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2020-2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Y không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc, yêu thương vợ con, có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Bà P một mình lo kinh tế trong gia đình, chăm sóc con cái. Ngoài ra, bà P phải trả các khoản nợ cho ông Y.

Bà P và ông Y đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau.

Nay bà P không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân và cũng không thể chung sống với ông Y, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông Y.

Về con chung: Có 03 con chung tên Trương Minh Q, sinh ngày 04/7/2015; Trương Minh L, sinh ngày 14/11/2012 và Trương Minh K, sinh ngày 11/8/2010. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành và tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà P và ông Y là vợ chồng hợp pháp từ ngày 20/11/2009. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Y không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc, yêu thương vợ con, có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Bà P là người lo kinh tế trong gia đình, một mình chăm sóc con cái. Bà P và ông Y đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông Y. Về con chung: Có 03 con chung tên Trương Minh Q, sinh ngày 04/7/2015; Trương Minh L, sinh ngày 14/11/2012 và Trương Minh K, sinh ngày 11/8/2010. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Để đảm bảo sự phát triển ổn định cho con chung cũng như xét yêu cầu của bà P, nguyện vọng của cháu Q, cháu K và cháu L muốn sống chung với mẹ là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Q, cháu K và cháu L cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi ba con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[I] Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa bà P và ông Y là tranh chấp về việc “ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; ông Y có nơi cư trú tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho bà P và ông Y. Tại phiên tòa, bà P có mặt, ông Y vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Y tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 183-KH, quyển số 01/2009 do UBND xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2009, có đủ cơ sở xác định, bà P và ông Y là vợ chồng hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông Y: Bà P trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Y không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc, yêu thương vợ con, có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Bà P một mình lo kinh tế trong gia đình, chăm sóc con cái. Ngoài ra, bà P phải trả nợ cho ông Y. Bà P và ông Y đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hoà giải để các đương sự có cơ hội đoàn tụ, hàn gắn nhưng ông Y vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà, ông Y cũng vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông Y không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà P và ông Y đã trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P về việc ly hôn với ông Y.

[2] Về con chung: Bà P xác định, trong quá trình chung sống, bà P và ông Y có 03 con chung tên Trương Minh Q, sinh ngày 04/7/2015; Trương Minh L, sinh ngày 14/11/2012 và Trương Minh K, sinh ngày 11/8/2010.

Xét thấy, bà P có nguyện vọng được nuôi dưỡng 03 con chung; cháu Q, cháu L và cháu K đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Bà P có thu nhập ổn định khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho cháu Q, cháu L và cháu K cũng như xét nguyện vọng của bà P được nuôi con là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cháu Q, cháu L và cháu K cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Xét thấy: Ngoài chi phí sinh hoạt thì hiện nay cháu Q, cháu L và cháu K đang đi học. Bà P yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho mỗi con chung là phù hợp với mức sống và chi phí sinh hoạt tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P về việc yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về nợ chung: Bà P xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P và ông Y phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thụy Minh P được ly hôn với ông Trương Minh Y (Giấy chứng nhận kết hôn số 183-KH, quyển số 01/2009 do UBND xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2009).
  2. Về con chung:
    1. Bà P và ông Y có 03 con chung tên Trương Minh Q, sinh ngày 04/7/2015; Trương Minh L, sinh ngày 14/11/2012 và Trương Minh K, sinh ngày 11/8/2010.
    2. Giao cháu Q, cháu L và cháu K cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trương Minh Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi cháu Q, cháu L và cháu K lần lượt đủ 18 tuổi.

    Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0047474 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn (đã nộp đủ).

    Ông Y phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  8. Nguyên đơn (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  9. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 316/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 316/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger