|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 316/2024/HC-PT Ngày: 22 - 4 - 2024 V/v khiếu kiện quyết định thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 720/2023/TLPT-HC ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định thu hồi đất”
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 19/2023/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
-
Người khởi kiện: Bà Từ Thị K, sinh năm 1964; địa chỉ: Số A đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lăk (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện: Ông Đoàn Việt T, sinh năm 1967; địa chỉ: A (tổ B), ấp A, Quốc lộ E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
-
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Người đại diện theo ủy quyền cho người bị kiện: Ông Võ Quốc T1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có mặt)
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lăk (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho ông S: Ông Đoàn Việt T, sinh năm 1967; địa chỉ: A (tổ B), ấp A, Quốc lộ E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
-
Công ty TNHH Đ; địa chỉ: K, Quốc lộ A, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đỗ Tấn P, chức vụ: Phó Giám đốc Công ty TNHH Đ (có mặt)
-
Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lăk (có mặt)
- Người kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 23-11-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày:
Ngày 05-02-2002 và ngày 30-5-2003 gia đình bà Từ Thị K nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đức T2 và ông Từ Văn L, trú tại: xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Lăk (nay là tỉnh Đắk Nông) diện tích đất 30.134m². Ngày 29-3-2005, ông Nguyễn Thanh S, bà Từ Thị K được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AB 116744, thửa số 50, tờ bản đồ địa chính số 04, diện tích 23.630m², mục đích sử dụng: đất trồng xoan (nay là thửa số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25,879,9m² và thửa số 03, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255,7m²) và GCNQSDĐ số AB 116743, thửa số 51, tờ bản đồ địa chính số 04 diện tích 4.420m², mục đích sử dụng: đất trồng xoan; đều tọa lạc tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 03-5-2017, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 302/QĐ-UBND về việc hủy giá trị pháp lý đối với 02 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nêu trên, lý do: diện tích đất đã cấp GCNQSDĐ chồng lên đất của Công ty L2. Ngày 06-6-2022 và ngày 29-7-2022, UBND huyện Đ ban hành các Quyết định số: 568/QĐ-UBND và số: 897/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất tương ứng 96.791m² và diện tích đất 29.359m², trong đó có diện tích đất 4.255m² và 25.879m² (thuộc thửa đất 50 trước đây), lý do thu hồi đất: Do vi phạm tại điểm c, d khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, bà K xác định từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (năm 2002) đến nay gia đình bà đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Do đó, UBND huyện Đ ban hành quyết định thu hồi đất của gia đình bà K là không đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tuyên hủy: một phần các Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 và số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255,7m² và thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879,9m², tọa lạc tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và buộc UBND huyện Đ cấp lại GCNQSDĐ cho gia đình bà K. Tại đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 10-7-2023 của bà Từ Thị K và tại biên bản đối thoại biên bản đối thoại ngày 11-7-2023 người đại diện theo ủy quyền tự nguyện rút yêu cầu: buộc UBND huyện Đ cấp lại GCNQSDĐ.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Thanh S thống nhất ý kiến với bà K, không trình bày bổ sung thêm.
- Ông Đỗ Tấn P, là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Đ (Công ty Đ): Sau khi ký hợp đồng góp vốn với bà Từ Thị K, Công ty Đ đã đầu tư và tạo lập nhiều tài sản trên đất có giá trị lớn, do đó đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện Đ căn cứ Kết luận số: 02/KL-UBND ngày 05-11-2021 để ban hành các Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 và số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 về việc thu hồi đất trong đó có thửa số 03, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255m² và thửa đất số 01 mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879m²; cùng địa chỉ: thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông của ông Nguyễn Thanh S và bà Từ Thị K. Ủy ban nhân dân huyện Đ, xác định tại thời điểm ông S, bà K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Đức T2 và ông Từ Ngọc L1 (bằng giấy viết tay) diện tích đất nêu trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của Lâm trường T3. Do vậy, việc nhận chuyển nhượng đất của ông S, bà K là vi phạm pháp luật, thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng, tặng cho theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 64 và Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 và không thuộc trường hợp phải thực hiện xác định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất để hoàn trả cho chủ sở hữu quy định tại khoản 3 Điều 66 của Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ (viết tắt Nghị định 43). Do vậy, Ủy ban nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bác yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K, giữ nguyên các quyết định hành chính bị kiện.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 19/2023/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Đắk Nông, quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng Điều 49 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 66 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 4 Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 của Chính phủ:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K:
- Hủy một phần Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi đất tại thửa đất số 3, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255m² và một phần Quyết định số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi đất tại thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879m²; địa chỉ các thửa đất: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26 và thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, tọa lạc tại: thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo đúng quy định tại Luật đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K, nội dung: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K và ông S đối với diện tích 4.255m², thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26 và diện tích 25.879m², thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 08/8/2023, người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về yêu cầu kháng cáo của phía người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ như sau:
[1] Ủy ban nhân dân huyện Đ xác định tại thời điểm năm 2002 và 2003, bà Từ Thị K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Đức T2 và ông Từ Ngọc L1 (bằng giấy viết tay) có nguồn gốc do Lâm trường T3 quản lý, sử dụng đã vi phạm pháp luật đất đai (thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng, tặng cho theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013). Do đó, UBND huyện Đ căn cứ điểm d khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013 để ban hành các Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 và số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 thu hồi đất (tổng diện tích đất là 116.150m²), trong đó có thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255m² và thửa đất số 01 mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879m², tọa lạc tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông của ông Nguyễn Thanh S và bà Từ Thị K, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2] Tại Kết luận số: 02/KL-UBND ngày 05-11-2021 của UBND huyện Đ về việc kiểm tra, rà soát việc quản lý và sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh S và bà Từ Thị K tại xã T (bút lục số 192), thì: Thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255m² và thửa đất số 01 mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879m² thuộc thửa đất số 50, tờ bản đồ địa chính số 04, do UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số AB 116744 ngày 29-3-2005 cho ông S và bà K. Tuy nhiên, thửa đất số 50 không được ghi nhận tại Tờ bản đồ giải thửa số 04 (đo đạc năm 2003) theo quy định của pháp luật, đồng thời nguồn gốc đất được xác định là “Nhận chuyển nhượng”. Như vậy, ngày 29-3-2005, UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số AB 116744, thửa đất 50, tờ bản đồ địa chính số 04, diện tích 23.630m² đối với ông Nguyễn Thanh S và bà Từ Thị K là trái quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai.
[3] Tại Quyết định số: 211/QĐ-UBND ngày 16-01-2003 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi 5.041 ha đất của Lâm trường Trường Xuân giao cho UBND huyện Đ quản lý (trong đó có diện tích đất năm 2002, năm 2003 bà Từ Thị K nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đức T2 và ông Từ Ngọc L1), không thuộc diện tích đất 6.436,86ha thu hồi tại Quyết định số: 364/QĐ-UBND ngày 02-3-2017 của UBND tỉnh Đ đối với Công ty TNHH L2 (Công ty L2) giao cho UBND huyện Đ quản lý và Quyết định số: 1227/QĐ-UBND ngày 05-9-2017 của UBND huyện Đ giao đất thu hồi của Công ty L2 giao cho UBND xã T quản lý.
Từ đó cho thấy, mặc dù nguồn gốc diện tích đất ghi nhận tại các “Giấy sang nhượng đất” ngày 05-02-2002 và “Giấy sang nhượng đất” ngày 30-5-2003, giữa bà Từ Thị K với ông Phạm Đức T2 và ông Từ Ngọc L1 (đã được cán bộ địa chính xã, UBND xã T xác nhận - bút lục số 19, 20), thuộc trường hợp đất lấn, chiếm của Lâm trường T3 không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, tại thời điểm UBND huyện Đ ban hành các Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 và số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 đối với ông S và bà K thì pháp luật về đất đai hiện nay đã quy định khác so với trước đây, cụ thể:
[3.1] Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai:
-
Điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định số 43 quy định việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, cụ thể: “2. Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty Đ, lâm nghiệp thì thực hiện xử lý theo quy định như sau:
- Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”
-
Khoản 5 Điều 22 của Nghị định 43 quy định: “5. Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại...điểm c khoản 2..., Điều này mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:
- Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;
- Trường hợp thửa đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở thì được công nhận theo quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;
- Đối với phần diện tích đất đang sử dụng được xác định là đất nông nghiệp thì được công nhận quyền sử dụng đất theo chế độ như quy định đối với trường hợp tại khoản 5 Điều 20 của Nghị định này;
- Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Khoản này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật”.
- Điểm h khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43 quy định về căn cứ xác định thời điểm sử dụng đất ổn định như sau: “2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây: h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan”.
[4] Tại tiểu mục 2.4 mục 2 Kế hoạch số: 437/KH-UBND ngày 10-10-2014 của UBND tỉnh Đ đối với diện tích 63.057ha đất có nguồn gốc lấn, chiếm đất rừng từ ngày 01-7-2004 đến ngày 01-01-2010 đã được UBND tỉnh thu hồi từ các Nông, Lâm trường giao về cho các địa phương quản lý và bố trí sử dụng, ghi nhận: Tổ chức thực hiện công tác đo đạc bản đồ, xác định ranh giới, diện tích các loại đất, tổ chức kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất nằm ngoài diện tích đất được xác định quy hoạch 03 loại rừng phù hợp quy hoạch sử dụng đất 2010-2020 và diện tích đất phù hợp quy hoạch phát triển nông nghiệp chất lượng cao.
[5] Như vậy, các “Giấy sang nhượng đất” ngày 05-02-2002 và “Giấy sang nhượng đất” ngày 30-5-2003, giữa bà Từ Thị K với ông Phạm Đức T2 và ông Từ Ngọc L1 hiện nay đã được pháp luật quy định là căn cứ xác định thời điểm sử dụng đất ổn định tại điểm h khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43. Đồng thời, khoản 5 Điều 20 của Nghị định số 43, quy định: “5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau: a)Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước; b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 126 và khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai”. Ngoài ra, khoản 54 Điều 1 Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 của Chính phủ (Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 của Nghị định số 43 quy định: "1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật: a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008”.
[6] Do được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ, ngày 20-5-2011 Công ty TNHH Đ (Công ty Đ) đã ký Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với bà Từ Thị K trong đó có các thửa đất số 50 và 51 tờ bản đồ địa chính số 04. Ngày 09-3-2012, Công ty Đ được UBND tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đầu tư số: 63121000104, tên dự án: Trung tâm G; địa chỉ: K, Quốc lộ A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (bút lục số 213, 216). Đồng thời, Công ty Đ đã đầu tư, tạo lập tài sản trên đất (biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 25-5-2023) gồm: 1,8ha bơ, mít trồng năm 2014, 2015; 100 cây các loại cây trồng lâu năm khác; nhà ở, công trình xây dựng phục vụ sinh hoạt, sản xuất phi nông nghiệp: kết cấu móng gạch, trụ sắt, vách thưng tôn, nền láng xi măng, mái lợp tôn, tổng diện tích hơn 200m²; trạm biến áp 100KVA-22/0,4KV; hệ thống tưới nước ngầm; công trình xây dựng phục vụ chăn nuôi: kết cấu chính móng đá, tường xây gạch, nền láng xi măng, mái lợp tôn, tổng diện tích hơn 180m²... Ngoài ra, trước khi ký hợp đồng liên kết gia đình bà K đã thuê người trồng khoảng 9000m² cây keo, xoan (trồng năm 2009), cây trồng khác... Khoản 7 Điều 20 Nghị định 43 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định”. Tuy nhiên, tại quyết định thu hồi đất, UBND huyện Đ lại giao diện tích đất trên cho UBND xã T quản lý vào mục đích công ích quy định tại Điều 132 của Luật Đất đai năm 2013 là không phù hợp.
[7] Công văn số: 1742/STNMT-QHGĐ ngày 07-7-2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ phúc đáp Công văn số 119/2023/TA-HC ngày 28-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (bút lục số 226) về việc cung cấp thông tin, tài liệu như sau: Theo bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020: Thửa số 3, tờ bản đồ địa chính số 26: có 906m² thuộc quy hoạch đường giao thông, diện tích còn lại thuộc Quy hoạch điểm công nghiệp tập trung; thửa số 01, mảnh trích đo số TĐ 129-2022: thuộc Quy hoạch điểm công nghiệp tập trung; bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 (điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất): Thửa số 3, tờ bản đồ địa chính số 26: 906m² quy hoạch đường giao thông, 219 m² đất nông nghiệp, diện tích còn lại thuộc quy hoạch đất ở nông thôn; thửa số 01, mảnh trích đo số TĐ 129-2022: 1.084m² thuộc quy hoạch rừng sản xuất, 17.381m² thuộc quy hoạch đất ở nông thôn, diện tích còn lại đất nông nghiệp; Theo bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030: Thửa số 3, tờ bản đồ địa chính số 26: 647m² thuộc quy hoạch đường giao thông, diện tích còn lại thuộc quy hoạch đất thương mại, dịch vụ; thửa số 01, mảnh trích đo số TĐ 129-2022: 632m² thuộc quy hoạch đất ở nông thôn, 114m² hiện trạng là đường giao thông, diện tích còn lại thuộc quy hoạch đất thương mại, dịch vụ. Tại Công văn số: 131/CV-TNMT ngày 24-7-2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ phúc đáp Công văn số: 126/2023/TA-HC, ngày 07-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (bút lục số 227a), nội dung: Do UBND huyện Đ đang lưu giữ bản đồ quy hoạch đất giai đoạn 2000-2010 (bản đồ giấy) nên không xác định được cụ thể quy hoạch sử dụng đất diện tích đối với diện tích thu hồi liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cụ thể: “2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật”.
[8] Như vậy, thực tế quá trình sử dụng đất, đầu tư và tạo lập tài sản gắn liền với đất của ông S, bà K và Công ty Đ là ngay tình, ổn định, không tranh chấp, không bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi cấp GCNQSDĐ trái pháp luật đất đai của UBND huyện Đ tại thời điểm năm 2005 đối với thửa đất 50, tờ bản đồ số 04 không thuộc trách nhiệm của ông S, bà K. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành ông S, bà K có đủ các điều kiện có thể được xem xét cấp GCNQSDĐ quy định tại Nghị định số 43 đã viện dẫn nêu trên. Tuy nhiên, trước khi ban hành các quyết định thu hồi đối với phần diện tích đất của ông S, bà K tại thửa số 03, tờ bản đồ địa chính số 26 và thửa số 01 mảnh trích đo địa chính số 129-2022, UBND huyện Đ chưa kiểm tra, xem xét, đánh giá toàn diện: diễn biến quá trình sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành nên không thực hiện đúng các quy định tại Nghị định số 43; khoản 2 Điều 4 của Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 sửa đổi, bổ sung Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP15-5-2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông S, bà K.
Từ đó cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K về việc hủy một phần Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi đất tại thửa đất số 3, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255,7m² và một phần Quyết định số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi diện tích 25.879,9m² tại thửa đất số 01 mảnh trích đo địa chính số 129-2022, tọa lạc tại: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đồng thời căn cứ khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với diện tích đất trên theo quy định tại Luật Đất đai hiện hành là có căn cứ và đúng pháp luật.
Yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[10] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy người bị kiện phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 19/2023/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng Điều 49 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 66 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 4 Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 của Chính phủ:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K:
- Hủy một phần Quyết định số: 568/QĐ-UBND ngày 06-6-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi đất tại thửa đất số 3, tờ bản đồ địa chính số 26, diện tích 4.255m² và một phần Quyết định số: 897/QĐ-UBND ngày 29-7-2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi đất tại thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, diện tích 25.879m²; địa chỉ các thửa đất: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26 và thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022, tọa lạc tại: thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo đúng quy định tại Luật đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị K, nội dung: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K và ông S đối với diện tích 4.255m², thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 26 và diện tích 25.879m², thửa đất số 01, mảnh trích đo địa chính số 129-2022.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000358 ngày 24/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
- Trả lại cho bà Từ Thị K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0000270 ngày 07/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 316/2024/HC-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định thu hồi đất
- Số bản án: 316/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kháng cáo
