Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án: số 3150/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Bùi Quang Chính;

2- Ông Chu Mạnh Tường.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân Dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Trịnh Thị Trang - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3603/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số .../2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1

Địa chỉ: số D- D đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: ông Lô Lâm P hoặc ông Nguyễn Vũ M – Đại diện theo ủy quyền – Văn bản ủy quyền ngày 16/7/2024 (có mặt).

2/Bị đơn: Bà Bùi Thị Đ sinh năm 1937 – chết năm 2021

Ông Nguyễn Hoài Chí T – sinh năm 1984(vắng mặt)

Cùng Địa chỉ: số A đường Đ, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị S - chết năm 2014

Địa chỉ: số A đường Đ, khu phố D, phường T, thành. phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 và trình bày của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: ngày 19/06/2009, Ngân hàng TMCP P1 – Chi nhánh P2 cùng bà Nguyễn Thị S đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay là: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng);
  • Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 24 tháng (kể từ ngày rút vốn lần đầu); Phương thức trả nợ: trả góp, lãi trả hàng tháng, gốc trả hàng tháng.

Lãi suất vay: lãi suất trong hạn 13,8%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu, từ tháng thứ 13 trở đi áp dụng theo lãi suất thông báo của O; Lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn.

2. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Mitsubishi, số loại: Lancer, màu đen, số máy : 4G18DG-5803, số khung: 00CS3A-31000299, biển số: 52V-9795 theo Giấy đăng ký xe ô tô số A0237956 do C cấp ngày 21/11/2003, thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị S. Tài sản này đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn số 005.09.00130/HĐTC/2009 ngày 19/06/2009 lập tại Ngân hàng TMCP P1 – Chi nhánh P2 và đã được đăng ký thế chấp ngày 09/07/2009 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản TP .; đã ngăn chặn tại C1- Đội đăng ký quản lý xe ngày 19/06/2009.

3. Khi thực hiện hợp đồng vay vốn, Bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được qui định trong Hợp đồng tín dụng về trả nợ vay. Dư nợ còn lại của hợp đồng vay tạm tính đến ngày 27/10/2014 gồm:

Nợ gốc quá hạn: 51.263.866 đồng

Tiền lãi tính đến ngày 27/10/2014: 55.514.318 đồng

Tổng cộng: 106.778.184 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu bảy trăm bảy mươi tám ngàn một trăm tám mươi bốn đồng).

Ngân hàng được biết năm 2014 bà Nguyễn Thị S đã chết, do đó Ngân hàng yêu cầu người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà S gồm: bà Bùi Thanh Đ1 và ông Nguyễn Hoài Chí T. Ngân hàng cũng được biết bà Bùi Thanh Đ1 đã chết vào năm 2021, do đó ông Nguyễn Hoài Chí T có trách nhiệm trả cho ngân hàng các khoản nợ nêu trên.

Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Hoài Chí T phải trả tiền lãi và lãi quá hạn phát sinh tính theo hợp đồng tín dụng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nếu ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P1 được tiến hành các thủ tục yêu cầu cơ quan thi hành án

áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để phát mại tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, số loại Lancer, màu đen, số máy 4G18DG-5803, số khung 00CS3A-31000299, biển số 52V- 9795 theo Giấy đăng ký xe ô tô số A0237956 do Công an Thành phố H cấp ngày 21/11/2003 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị S.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Hoài Chí T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của bị đơn phải thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 tổng số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 16/7/2024 phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 ngày 19/6/2009, tổng cộng là 252.554.294 đồng, trong đó nợ gốc 51.263.866 đồng và tiền nợ lãi suất và tiền phạt là 201.290.428 đồng.

Yêu cầu ông T phải có trách nhiệm tiếp tục trả lãi tính từ ngày 16/7/2024 theo lãi suất thoả thuận trong giấy đề nghị cấp tín dụng đã ký kết nêu trên cho đến khi trả hết nợ.

Nếu ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P1 được tiến hành các thủ tục yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn số 005.09.00130/HĐTC/2009 ký ngày 19/6/2009

Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Hoài Chí T ngày Toà án xét xử giải quyết vụ án nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 và bị đơn bà Bùi Thị Đ và ông Nguyễn Hoài Chí T, cư trú tại số A đường Đ, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Quan hệ tranh chấp giữa hai bên là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thể hiện bằng Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 ký ngày 19/6/2009, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 với bà Nguyễn Thị S. Tuy nhiên do bà Nguyễn Thị S chết trước khi nguyên đơn khởi kiện nên vụ việc sau khi nguyên đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, đã xác định bị đơn là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà S do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Đối với Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 xét về nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên căn cứ theo các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015, nên có hiệu lực thi hành.

[3] Bị đơn bà Nguyễn Thị S sinh năm 1962, chết ngày 15/8/2014 theo giấy chứng tử do chính quyền Bang Guam chứng tử ngày 23/8/2015. Từ thông tin này Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), xác minh, đã xác định được người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà S gồm: bà Bùi Thị Đ (mẹ), ông Nguyễn Chí T (con) và ông Garizalde Pajela D (chồng). Do đó Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết, ngày 01/12/2020 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án số 706/2020/TLST-DS. Sau đó Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác minh tại Sở Tư pháp, kết quả không có thông tin về việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài của bà Nguyễn Thị S sinh năm 1962, do đó căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 34 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 Hướng dẫn Luật hộ tịch mới thì ông G Pajela Desamito không phải là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị S do đó không cần triệu tập ông Garizalde Pajela D vào tham gia tố tụng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý tiếp tục giải quyết vụ án. Ngày 26/3/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh thông tin đối với bà Đ và ông T, thì được cung cấp thông tin bà Bùi Thị Đ sinh năm 1937 chết năm 2021. Bà Đ chết không có người kế thừa quyền và nghĩa vụ.

Vì vậy ông Nguyễn Hoài Chí T được xác định là bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của bà Nguyễn Thị S. Do đó trong vụ án này ông Nguyễn Hoài Chí T có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

[4] Hội đồng xét xử, xét việc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 yêu cầu thu hồi nợ gốc số tiền 51.263.866 đồng. Hội đồng xét xử căn cứ Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 ký ngày 19/6/2009 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 22/6/2009 được ký kết giữa nguyên đơn và và bà Nguyễn Thị S, có cơ sở xác định số tiền nợ gốc bà S đã vay là 150.000.000 đồng. Quá trình vay tiền bà S đã thanh toán được một phần số tiền nợ gốc cho ngân hàng. Tính đến ngày 16/7/2024 bà S còn nợ ngân hàng số tiền gốc 51.263.866 đồng chưa

thanh toán, bà S đã chết do đó ông T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của bà S như đã nhận định tại mục [3] phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo các hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ bà S đã ký.

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 51.263.866 đồng, mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 ký ngày 19/6/2009 và giấy nhận nợ số 01 mà hai bên đã ký kết. Tại thời điểm xét xử vụ án số tiền lãi tính đến ngày 16/7/2024 là 201.290.428 đồng, ông T phải thanh toán số tiền này cho ngân hàng. Ngoài ra ông Nguyễn Hoài Chí T phải tiếp tục trả tiền lãi suất theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký tính từ ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Hoài Chí T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn số 005.09.00130/HĐTC/2009 ký ngày 19/6/2009 để thu hồi nợ.

Xét bị đơn ông Nguyễn Hoài Chí T trong quá trình tố tụng không đến Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Bị đơn ông Nguyễn Hoài Chí T phải chịu trên số tiền phải trả cho nguyên đơn, án phí 12.627.715 đồng.
  • + Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 422, Điều 424, Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật các tổ chức tín dụng.

  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;
  • - Căn cứ Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 buộc bị đơn ông Nguyễn Hoài Chí T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 số tiền nợ gốc là 51.263.866 đồng (năm mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi sáu đồng) và tiền nợ lãi suất là 201.290.428 đồng (hai trăm lẻ một triệu hai trăm chín mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng 252.554.294 đồng (hai trăm năm mươi hai triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng).
  2. Kể từ ngày 17/7/2024, nếu ông Nguyễn Hoài Chí T chưa trả tiền, thì ông Nguyễn Hoài Chí T phải trả tiền lãi suất của số tiền gốc chậm trả với mức lãi suất đã thỏa thuận tại theo Hợp đồng tín dụng số 005.09.00130 ngày 19/6/2009 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 22/6/2009 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

    Ngay khi ông Nguyễn Hoài Chí T thanh toán xong nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 có trách nhiệm giải chấp tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn số 005.09.00130/HĐTC/2009 ký ngày 19/6/2009.

    Trường hợp ông Nguyễn Hoài Chí T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, số loại Lancer, màu đen, số máy 4G18DG-5803, số khung 00CS3A-31000299, biển số 52V- 9795 theo Giấy đăng ký xe ô tô số A0237956 do Công an Thành phố H cấp ngày 21/11/2003 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị S, theo Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn số 005.09.00130/HĐTC/2009 ký ngày 19/6/2009.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: 12.627.715 đồng (mười hai triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm mười lăm đồng), ông Nguyễn Hoài Chí T phải nộp.
  4. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.669.454 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 5878 ngày 21/11/2014 Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Đương sự có mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều7a; Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3150/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3150/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngan hang-Nguyen Hoai Chi Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger