|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Bản án số: 315/2023/HS-ST Ngày: 26 - 12 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân;
2. Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung-Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 276/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Thành H, sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tỉnh lộ 2, tổ G, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Thành H1, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị T (chết); bị cáo có vợ tên Thái Thị T1, sinh năm: 1986, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 02 (H2) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 32/2021/HSST ngày 04/3/2021, đến ngày 17/10/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 (Hai mươi mốt) tháng theo Quyết định số 172/QĐ-TA ngày 16/5/2017.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 16/6/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 16/6/2023, Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra khách sạn L tại địa chỉ số B N, ấp C, xã T, huyện C. Khi kiểm tra đến phòng số 201 do Lưu Thành H thuê thì phát hiện có 04 đối tượng gồm: Lưu Thành H, Cao Lê Anh T2, Phạm Phi V và Nguyễn Thành Đ. Qua kiểm tra phát hiện trên nền gạch có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu, H khai nhận tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh là ma túy đá do H mua của một người tên T3 (không rõ lai lịch) tại huyện H để sử dụng và có cho T2, V cùng sử dụng chất ma túy tại phòng số 201. Công an xã T biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu, 01 quẹt gas, 04 điện thoại di động, 01 xe gắn máy biển số 59Y1-518.47. Quá trình điều tra khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/6/2023, H gọi điện thoại vào số thuê bao 0903211321 gặp T3 hỏi mua 300.000đ ma túy đá, T3 đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy, tiền tại khu vực gần chợ B thuộc huyện H. Thỏa thuận xong H đi xe buýt đến điểm hẹn gặp T3. H đưa cho T3 số tiền 300.000đ và nhận lại 01 gói ma túy giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi xe buýt về nhà.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, H mang theo gói ma túy vừa mua được cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy và điều khiển xe gắn máy biển số 59Y1-51847 đi từ nhà đến khách sạn L thuộc ấp C, xã T, huyện C thuê phòng số 201 để sử dụng ma túy. Sau đó, H nhắn tin cho Cao Lê Anh T2 rủ đến khách sạn L chơi. Trong lúc chờ T2 đến, H lấy gói ma túy cho hết vào bộ dụng cụ rồi dùng quẹt gas đốt chất ma túy sử dụng một mình. Sau khi sử dụng ma túy xong, H cất giấu bộ dụng cụ còn chất ma túy vào tủ quần áo. Một lúc sau thì T2 vào phòng, H rủ T2 sử dụng ma túy, T2 đồng ý, H lấy bộ dụng cụ có sẵn chất ma túy ra dùng quẹt gas đốt chất ma túy lên để H và T2 cùng sử dụng. Thư hút được 03 hơi thì không hút nữa. Lúc này, trong ống thủy tinh của bộ D vẫn còn một ít chất ma túy, H mang bộ dụng cụ để trên bàn. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thành Đ gọi điện thoại cho H kêu ra chợ Chiều thuộc xã T, huyện C rước Đ. H điều khiển xe gắn máy đi rước Đ về phòng số 201. Sau đó Đ hỏi mượn xe của H để đi thăm cha mẹ, H đồng ý. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, T2 mượn điện thoại của H liên lạc với Phạm Phi V kêu đem túi quần, áo đến khách sạn cho T2. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, V mang túi đồ đến phòng số 201 cho T2. T2 lấy đồ đi vào nhà vệ sinh tắm. Lúc này, V thấy bộ dụng cụ còn ít chất ma túy để trên bàn nên hỏi H là của ai. H nói là của H và kêu V sử dụng, V cầm bộ dụng cụ đốt hút được 01 hơi thì để lại trên nền gạch rồi ngồi nói chuyện với H. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Đ về lại phòng. Đ hỏi H còn ma túy không cho Đ hút một hơi. H nói là hết ma túy rồi vì nghĩ V đã sử dụng hết rồi. Khi H, T2, Đ và V vũ ngồi nói chuyện thì bị Công an xã T kiểm tra phát hiện và bắt giữ.
Kết luận giám định số 6580 ngày 23/6/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lưu Thành H và hình dấu Công an xã T, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0166g, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 1361/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
- 01 xe gắn máy biển số: 59Y1-518.47; số máy, số khung: Không có. Qua xác minh biển số 59Y1-518.47 xác định là xe gắn máy hiệu HONDA, loại Dream, màu nâu, có số khung: C100M0131808, số máy: C100ME0131808 do ông Nguyễn Thành T4 (sinh năm: 1957; nơi thường trú: B, ấp Đ, xã B, huyện H) mua và đứng tên chủ sở hữu vào năm 2013. Hiện tại ông T4 đang sở hữu và sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số IMEI: 357748105062361, đã qua sử dụng;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- 01 quẹt gas.
Tại Cáo trạng số 256/CT-VKSCC ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố Lưu Thành H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Đ1 a Khoản 1 Điều 249 và Điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Thành H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo mới chấp hành án xong hình phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào ngày 17/10/2022 trở về địa phương, do không có việc làm ổn định và buồn nhiều chuyện nên mới sử dụng lại ma túy cho hết buồn. Khoảng tháng 6/2023, người bạn ngoài xã hội tên Đ cho bị cáo số điện thoại di động của người tên T3 có bán trái phép chất ma túy. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 16/6/2023, bị cáo dùng điện thoại di động điện thoại cho người thanh niên tên T3 hỏi mua 01 gói chất ma túy với giá 300.000đ để sử dụng thì T3 đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận chất ma túy gần chợ B, huyện H, bị cáo đón xe buýt đến địa diểm đã hẹn gặp T3 để đưa T3 số tiền 300.000đ và nhận của T3 01 gói chất ma túy, bị cáo cất giấu gói ma túy trong túi quần rồi đón xe buýt về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo lấy gói chất ma túy và bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy rồi điều khiển xe máy biển số 59Y1-51.847 đến khách sạn L tại ấp C, xã T, huyện C thuê phòng trọ để sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi thuê phòng số 201, bị cáo nhắn tin rủ bạn tên Cao Lê Anh T2 đến khách sạn L chơi thì T2 đồng ý, bị cáo lấy chất ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy để sử dụng, sau đó bị cáo đem bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy cất giấu vào tủ quần áo. Một lúc sao thì T2 đến phòng, bị cáo rủ T2 sử dụng chất ma túy thì T2 đồng ý, bị cáo lấy bộ dụng cụ có sẵn chất ma túy để cùng sử dụng với T2 rồi để bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy lên bàn. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thành Đ gọi điện thoại cho bị cáo nhờ ra chợ Chiều thuộc xã T, huyện C rước Đ, sau đó Đ hỏi mượn xe của bị cáo để đi thăm cha mẹ. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, T2 mượn điện thoại của bị cáo liên lạc với Phạm Phi V nhờ đem túi quần, áo đến khách sạn cho T2, đến khoảng 20 giờ 20 phút thì V mang túi đồ đến phòng số 201 cho T2. T2 lấy đồ đi vào nhà vệ sinh tắm, V thấy bộ dụng cụ còn chất ma túy để trên bàn nên hỏi bị cáo thì bị cáo kêu V sử dụng, V cầm bộ dụng cụ đốt hút 01 hơi rồi để lại trên nền gạch. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Đ về lại phòng. Đ hỏi bị cáo còn ma túy không cho Đ hút một hơi, bị cáo nói hết rồi. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Công an xã T, huyện C kiểm tra khách sạn L phát hiện bắt giữ, thu giữ của bị cáo điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 xe gắn máy biển số 59Y1-518.47, xe máy này bị cáo mua trên mạng với giá 2.000.000đ, không có giấy tờ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Đ1 a Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lưu Thành H mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 255, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lưu Thành H mức án từ 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù đến 08 (T5) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 32, Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1361/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas.
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe gắn máy biển số: 59Y1-518.47, số máy, số khung: Không có; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số IMEI: 357748105062361, đã qua sử dụng.
Bị cáo Lưu Thành H không tranh luận, không tự bào chữa
Bị cáo Lưu Thành H nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo Lưu Thành H có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích đã có hành cất giữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0166g, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra bị cáo còn có hành vi cho chất ma túy vào bộ dụng cụ để cho những người tên Cao Lê Anh T2, Phạm Phi V sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, với phương thức lưu giữ, cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, cấm sử dụng, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lưu Thành H có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32, Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[6] Về vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 1361/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên là đối tượng phạm tội nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số IMEI: 357748105062361, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 xe gắn máy biển số 59Y1-518.47 (số máy, số khung: Không có). Qua xác minh biển số 59Y1-518.47 xác định là xe gắn máy hiệu HONDA, loại Dream, màu nâu, có số khung: C100M0131808, số máy: C100ME0131808 do ông Nguyễn Thành T4 mua và đứng tên chủ sở hữu vào năm 2013, hiện tại ông T4 đang sở hữu và sử dụng, Hội đồng xét xử xét xe máy gắn biển số 59Y1-518.47 (số máy, số khung: Không có) không được phép lưu hành nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác:
Trong vụ án này, theo bị cáo khai có người tên T3 không rõ lai lịch là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đề nghị loại trừ để xác minh làm rõ và xử lý sau; đối với những người tên Cao Lê Anh T2, Phạm Phi V và Nguyễn Thành Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển về Công an xã T, huyện C để xử lý theo thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét các xử lý trên là phù hợp nên không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc bị cáo Lưu Thành H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lưu Thành H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 249 Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lưu Thành H 02 (H2) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lưu Thành H 08 (T5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lưu Thành H phải chấp hành hình phạt 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023.
3. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1361/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số IMEI: 357748105062361, đã qua sử dụng và 01 xe gắn máy biển số: 59Y1-518.47 (số máy, số khung: Không rõ).
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 220/PNK ngày 18/9/2023 và Lệnh nhập kho vật chứng số 220/LNK-CSĐT-MT) ngày 18/9/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C).
4. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Lưu Thành H phải chịu.
5. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 315/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 315/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
