|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 315/2024/HSST
Ngày: 08-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hải Y - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 297/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:315/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Phùng Văn L, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/11/1984
Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Phùng Văn L1, sinh năm 1962 và bà Ma Thị Q (đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, Bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Trần Thị H, sinh năm 1984, có 01 con sinh năm 2006.
Tiền sự: không
Tiền án: Tại bản án số 93/2018/HSST ngày 14/3/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mau bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/5/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Viên Đình N, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm M, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 40 phút ngày 13/9/2024, tổ công tác Công an xã L, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm L, xã L thì phát hiện 01 nam giới đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra và mời người chứng kiến, người nam giới khai nhận tên là Phùng Văn L và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi quần bên trái phía trước L đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (theo L khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định, ngoài ra không thu giữ gì khác. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của L có khối lượng 0,171 gam (niêm phong A1 gửi giám định).
Tại Bản kết luận giám định số 1015/KL- KTHS ngày 21/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,171 gam.
Tại cơ quan diều tra, Phùng Văn L khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 13/9/2024, L đến bệnh viện A để lấy thuốc ARV, khi lấy thuốc xong ra đến đến cổng L gặp và mua của một người đàn ông trung tuổi, không quen biết 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 50.000 đồng. Mua xong, L cất gói ma túi ma túy vào túi quần bên trái phía trước quần đang mặc rồi đi nhờ xe của người đi đường về xóm Làng Phan, xã L tìm nơi sử dụng. Khi đi đến cổng vào xóm làng Phan, xã L, L xuống xe đi bộ được một đoạn thì bị tổ công tác Công an xã L phát hiện, kiểm tra. Quá trình kiểm tra, L đã tự giác giao nộp từ túi quần bên trái đang mặc 01 gói ma túy được bọc bằng giấy bạc màu trắng là ma tuý Heroine của L. Tổ công tác đã lập biên bản bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: - 02 bì niêm phong ký hiệu lần lượt A1, H là mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 301/CT-VKSTPTN, ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phùng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 301/CT-VKSNDTP ngày 14/10/2024 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phùng Văn L mức án từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1,H bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định;
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phùng Văn L tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào hồi 12 giờ 40, ngày 13/9/2024, tại khu vực xóm L, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Phùng Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,171 gam ma túy loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo L khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng bệnh viện A1 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 50.000₫.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,171 gam ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Phùng Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 301/CT-VKSTPTN ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
c) Heroin.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu năm2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy vừa ra trại tháng 5/2023 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân tiếp tục đi vào con đường phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Phùng Văn L khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng bệnh viện A1 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
[7]. Vật chứng vụ án:
Các bì niêm phong ký hiệu A1, H bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 2. Về tội danh và hình phạt:
- 2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- 2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
- 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa ma túy, loại Heroine và vỏ mẫu hoàn lại sau giám định.
- + 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 06 ngày 17/10/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
- 4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phùng Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
- 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |
Bản án số 315/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 315/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 27 tháng
