TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 315/2024/HS-ST
Ngày: 22/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và ông Nguyễn Đức Đạt
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên
Mở phiên tòa công khai ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 261/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986. Giới tính: Nam. HKTT: Số H, H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, Đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 10/12. Con ông Nguyễn Văn O và bà Lê Thị T1. Có vợ là Trịnh Thị Thúy L và 01 con sinh năm 2009. Tiền án: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2019/HSST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1990. HKTT: Tổ A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: thôn M, xã C, huyện Đ, Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Nguyễn Thị Thảo V, sinh năm 2002. HKTT: tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Phạm Thị Hương G, sinh năm 2004. Địa chỉ: số D, ngõ B, N, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
- Công ty cổ phần Đ. Địa chỉ: Số B, ngõ H, T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền là chị Đỗ Phương D, sinh năm 1983. Địa chỉ: số F, ngõ I H, tổ H, phường T, quận C, Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Trần Lệ T2, sinh năm 2001. Địa chỉ: số I, ngõ A, B, phường H, quận H, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
- Chị Lê Phan Khánh V1, sinh năm 1996. Địa chỉ: số D, đường Q, phường Y, quận H, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị C; sinh năm 1969. Trú tại: Số H, H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. . Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 19/5/2023 đến ngày 7/7/2024, trên địa bàn quận H, Nguyễn Thanh T đã thực hiện 6 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- * Vụ thứ nhất: khoảng 17 giờ 25 phút ngày 19/5/2023, Nguyễn Thanh T đi xe máy nhãn hiệu Mio Classico màu xanh trắng, không đeo BKS đến cửa hàng ở địa chỉ: V Terra Khu đô thị A, phường L, quận H, Hà Nội. Phát hiện thấy chiếc điện thoại Iphone X màu đen (của chị Nguyễn Thị Thảo V trị giá 3.699.000 đồng) để trên bàn quầy, chị V đang quét dọn phía trong không để ý. T lấy chiếc điện thoại rời đi, sau đó mang bán chiếc điện thoại cho một cửa hàng mua bán điện thoại cũ (không nhớ địa chỉ) được 1.000.000 đồng. Số tiền trên T đã chi tiêu cá nhân hết.
- * Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 10/9/2023, T đi xe máy nhãn hiệu Mio Classico nêu trên đến cửa hàng bán nội thất (ở địa chỉ: Số I N, phường L, quận Đ, Hà Nội). T đi vào cửa hàng phát hiện thấy có 01 chiếc túi sách đựng đồ cá nhân (đã xác định của chị Đặng Thị Thu H), để trên ghế không ai để ý. T lục túi lấy được 02 chiếc điện thoại di động (một chiếc nhãn hiệu Oppo F11 Pro Grey giá trị 1.100.000 đồng và chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi 10x màu đen trị giá 1.960.000 đồng) rồi rời đi. T bán 02 chiếc điện thoại cho một cửa hàng mua bán điện thoại cũ (T không nhớ địa chỉ của cửa hàng) được 1.000.000 đồng, số tiền trên T đã chi tiêu cá nhân hết.
- * Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/10/2023, T đi xe máy nhãn hiệu Mio classico nêu trên đến cửa hàng H1 (thuộc Công ty cổ phần Đ, địa chỉ: Số B ngõ H T, phường D, quận C, Hà Nội - do ông Phan Đăng Q là giám đốc). T đi vào cửa hàng, không thấy ai trông giữ. T liền lấy 01 con tôm hùm đá Nam Úc màu đỏ, nặng 3,5kg (trị giá 4.900.000 đồng) trong bể rồi mang ra ngoài định rời đi thì bị nhân viên bảo vệ của cửa hàng phát hiện và truy hô. T liền vứt con tôm hùm xuống đất rồi lên xe máy bỏ chạy.
- * Vụ thứ tư: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, T đi xe máy nhãn hiệu Mio classico đến cửa hàng T4 (địa chỉ: Số B Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội). Khi vào bên trong cửa hàng thấy không có ai, phát hiện thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5 màu đen để trên thùng bia kê ở cửa ra vào (đã xác định được của chị Trần Lệ T2 có giá trị 2.000.000 đồng). T lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần rồi lên xe máy tẩu thoát. T mang bán điện thoại lấy được cho một của hàng mua bán điện thoại cũ (không nhớ địa chỉ) được 800.000 đồng. Số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết.
- * Vụ thứ năm: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 28/6/2024, T đi xe máy nhãn hiệu Mio classico đi đến cửa hàng bán đồ uống Mao K (địa chỉ: Số A L, phường N, quận H, Hà Nội). T đỗ xe máy dưới lòng đường, đi vào cửa hàng, hỏi mua 01 cốc trà sữa. Khi chị Lê Phan Khánh V1 (chủ cửa hàng) đi vào quầy pha chế trà sữa, T phát hiện thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh da trời, có ốp bên ngoài màu vàng đang để trên ghế cạnh quầy (đã xác định được của chị V1 có giá trị 10.000.000 đồng). T liền lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần rồi lên xe máy tẩu thoát. T bán chiếc điện thoại cho một cửa hàng điện thoại (không nhớ địa chỉ) được 2.000.000 đồng. Số tiền trên T đã chi tiêu cá nhân hết.
- * Vụ thứ sáu: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 07/7/2024, Nguyễn Thanh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Mio classico màu xanh trắng, không đeo BKS đi đến cửa hàng bán đồ uống Mixue (địa chỉ: TT01A-15 khu đô thị M, phường M, quận H, Hà Nội). T đỗ xe trên vỉa hè trước cửa hàng rồi đi bộ vào trong, có chị Phạm Thị Hương G nhân viên bán hàng đang làm việc trong khu pha chế. T phát hiện thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen để trên bàn quầy (đã xác định được của chị G trị giá 6.640.000 đồng). T lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần rồi tẩu thoát. T đã giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan Công an Hà đông trong quá trình điều tra. Ngày 27/8/2024, Công an quận H đã trả chiếc điện thoại nêu trên cho chị G. Chị G không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Ngày 07/07/2024, Nguyễn Thanh T đã đến Công an quận H xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 07, 08 và ngày 22/7/2024, chị Phạm Thị Hương G, Lê Phan Khánh V1, Nguyễn Thị Thảo V, Đặng Thị Thu H, Trần Lệ T2, Đỗ Phương D (đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ), đến Công an quận H trình báo vụ việc.
* Vật chứng thu giữ.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu đen (do Nguyễn Thanh T tự nguyện giao nộp)
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Mio classico màu xanh trắng không có BKS, SK: 001091, SM: 001091.
- - 01 chiếc quần bò dài màu đen.
- - 01 chiếc áo chống nắng dài tay màu xanh than, có 02 sọc màu trắng ở mỗi tay áo.
- - 01 đôi dép màu đen, quai dép có đính kim loại màu trắng sáng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng quận H, định giá đối với tài sản do T trộm cắp nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2024 và 146/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2024. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận :
- - Giá trị thiệt hại tài sản 01(một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen (64GB) (đã qua sử dụng, đã thu được tang vật). Giá trị là 6.640.000 đồng.
- - Giá trị thiệt hại tài sản 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax 128GB, màu xanh da trời (đã qua sử dụng chưa thu được tang vật). Trị giá 10.000.000 đồng.
- - Giá trị tài sản (một) 01 điện thoại Iphone X màu đen, bộ nhớ 64Gb (chưa thu hồi được tang vật) là 3.699.000 đồng.
- - Giá trị tài sản (một) 01 điện thoại Oppo Reno 5 màu đen, RAM 8GB, ROM 128Gb (chưa thu hồi được tang vật) là 2.000.000 đồng.
- - Giá trị tài sản (một) 01điện thoại Oppo F11 Pro Grey, bộ nhớ 128GB(chưa thu hồi được tang vật) là 1.100.000 đồng.
- - Giá trị tài sản (một) 01 điện thoại Redmi 10X màu đen, RAM 4GB, ROM 128Gb(chưa thu hồi được tang vật) 1.960.000 đồng.
- - Giá trị tài sản (một) 01 con tôm hùm đá Nam Úc màu đỏ nặng 3,5 kg (đã thu được tang vật) là 4.900.000 đồng.
Trong vụ án trên chị Lê Phan Khánh V1 còn trình báo bị mất 01 (một) nhẫn có gắn kim cương, 2 thỏi son môi, 01 thẻ Ngân hàng để trong ốp điện thoại. Ngoài lời khai của chị V1 ra không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ kết luận Nguyễn Thanh T đã trộm cắp số tài sản trên của chị Lê Phan Khánh V1.
Đối với những chiếc điện thoại Nguyễn Thanh T đã trộm cắp được, T đã bán cho các cửa hàng mua bán điện thoại, nhưng T không nhớ địa chỉ cụ thể của các cửa hàng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng chưa có kết quả, khi nào có kết quả sẽ làm rõ xử lý sau.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Mio classico màu xanh không có BKS, SK: 001091, SM: 001091: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên có BKS: 29X1-4253, chủ sở hữu là chị Lê Thị C, (sinh năm 1969, trú tại H H, H, H, Hà Nội - là dì ruột của T). T mượn xe máy của chị C để làm phương tiện đi lại, chị C không biết T sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị C.
Đối với con tôm hùm đá Nam úc của cửa hàng H1 thuộc Công ty cổ phần Đ, trị giá là 4.900.000 đồng. Khi T vứt lại để tẩu thoát, con tôm bị chết và cửa hàng đã bán được 3.500.000 đồng. Quá trình điều tra, Công ty cổ phần Đ yêu cầu Nguyễn Thanh T phải bồi thường số tiền bị thiệt hại còn lại là 1.400.000 đồng.
Những người bị hại đều yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được. Chị Nguyễn Thị Thảo V yêu cầu T bồi thường 3.699.000 đồng; chị Đặng Thị Thu H yêu cầu T bồi thường 3.060.000 đồng; chị Trần Lệ T2 yêu cầu T bồi thường 2.000.000 đồng; chị Lê Phan Khánh V1 yêu cầu T bồi thường 330.554.000 đồng (bao gồm giá trị chiếc điện thoại theo kết quả định giá 10.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn kim cương trị giá 320.564.000 đồng).
Cáo trạng số 257/CT-VKS-HĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thanh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan.
Những người bị hại có mặt tại phiên tòa đề nghị bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được.
Tại đơn xin vắng mặt tại phiên toà gửi Toà án, chị Đỗ Phương D (đại diện uỷ quyền của Công ty cổ phần Đ) không đề nghị bị cáo phải bồi thường giá trị thiệt hại 1.400.000 đồng do phải bán hạ giá con tôm hùm bị cáo đã trộm cắp.
Đại diện Viện kiểm sát quận H, Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thanh T 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024 và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường cho Công ty cổ phần Đ 1.400.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thảo V 3.699.000 đồng, chị Đặng Thị Thu H 3.060.000 đồng, chị Trần Lệ T3 2.000.000 đồng, Lê Phan Khánh V1 10.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò dài màu đen;01 chiếc áo chống nắng dài tay màu xanh than, có 02 sọc màu trắng ở mỗi tay áo; 01 đôi dép màu đen, quai dép có đính kim loại màu trắng sáng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Nguyễn Thanh T đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 06 chiếc điện thoại và 01 con tôm hùm của 06 người bị hại. Tổng giá trị tài sản do T chiếm đoạt là 30.299.000 đồng. T đã bán 05 chiếc điện thoại trộm được với số tiền 4.800.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.
Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Bị cáo liên tiếp thực hiện nhiều hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, đã bị xử lý vẫn cố ý thực hiện nhiều hành vi phạm tội, thể hiện thái độ thiếu ý thức tu dưỡng, coi thường pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024, nên thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị Thảo V yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường 3.699.000 đồng; chị Đặng Thị Thu H yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường 3.060.000 đồng; chị Trần Lệ T2 yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường 2.000.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật luật nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường.
Chị Đỗ Phương D (đại diện uỷ quyền của Công ty cổ phần Đ) không đề nghị bị cáo phải bồi thường giá trị thiệt hại 1.400.000 đồng do phải bán hạ giá con tôm hùm bị cáo trộm cắp nên cần ghi nhận.
Chị Lê Phan Khánh V1 đòi Nguyễn Thanh T bồi thường 330.554.000 đồng (bao gồm giá trị chiếc điện thoại Iphone 12 Pro theo kết quả định giá 10.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn kim cương trị giá 320.564.000 đồng).
Đối với chiếc nhẫn kim cương trị giá 320.564.000 đồng, ngoài lời trình bày của chị V1, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập chứng cứ nhưng không đủ căn cứ để xác định T đã có hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên của chị V1. Cơ quan điều tra không đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông không truy tố đối với bị cáo về hành vi này nên không có căn cứ để xem xét, xử lý trong vụ án này. Vì vậy chỉ có căn cứ buộc bị cáo bồi thường trả chị Lê Phan Khánh V1 giá trị 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax 128GB, màu xanh da trời (đã qua sử dụng chưa thu được tang vật) là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
[5] Về xử lý vật chứng:
Số tài sản đã thu giữ của bị cáo: 01 chiếc quần bò dài màu đen; 01 chiếc áo chống nắng dài tay màu xanh than, có 02 sọc màu trắng ở mỗi tay áo; 01 đôi dép màu đen, quai dép có đính kim loại màu trắng sáng. Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo không đề nghị được nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Mio classico màu xanh không có BKS, SK: 001091, SM: 001091: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên có BKS: 29X1-4253, chủ sở hữu là chị Lê Thị C, (sinh năm 1969, trú tại H H, H, H, Hà Nội - là dì ruột của T). T mượn xe máy của chị C để làm phương tiện đi lại, chị C không biết T sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị C. Chị C đã nhận lại xe và không có ý kiến đề nghị gì khác nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Thanh T có trách nhiệm bồi thường trả: Chị Nguyễn Thị Thảo V 3.699.000 đồng (ba triệu, sáu trăm chín chín nghìn đồng); chị Đặng Thị Thu H 3.060.000 đồng (ba triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng); chị Trần Lệ T2 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); chị Lê Phan Khánh V1 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);
Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cổ phần Đ không đề nghị bị cáo phải bồi thường giá trị thiệt hại 1.400.000 đồng do phải bán hạ giá con tôm hùm bị cáo trộm cắp.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc quần bò dài màu đen; 01 chiếc áo chống nắng dài tay màu xanh than, có 02 sọc màu trắng ở mỗi tay áo; 01 đôi dép màu đen, quai dép có đính kim loại màu trắng sáng. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Công an quận H, Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 937.950 đồng (Chín trăm ba bảy nghìn, chín trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 315/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 315/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T10.24 BA Ngyễn Thanh Tú (173-Hòa) 315 22.10.24
