|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 315/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 8 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Hòa và ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh ngày 16/01/1989; Địa chỉ: xóm P, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 12/8/1992; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm P, xã L, huyện H, Nghệ An. Nơi ở hiện nay: nước ngoài.Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An ngày 07 tháng 01 năm 2014. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Năm 2019 vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn về tình cảm. Cuối năm 2020, chị N đi nước ngoài. Từ đó cho đến nay chị N không liên lạc với anh H, cũng không quan tâm gì đến các con. Anh H chỉ biết hiện nay chị N đang ở Slovakia. Nay anh H thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh H yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: anh H, chị N có hai con chung là Nguyễn Văn Minh T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015 và Nguyễn Văn Minh H1, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2017, từ khi chị N đi nước ngoài đến nay các con chung sống cùng anh H. Nay ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là chị Nguyễn Thị N vắng mặt, do đó không có ý kiến.
Anh Nguyễn Văn H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú và nơi làm việc hiện nay của chị N, chỉ biết chị N đang sinh sống tại Slovakia.
Theo Công văn số 10337/QLXNC-P3 ngày 17/5/2024 của Cục Q - Bộ C thì chị Nguyễn Thị N xuất cảnh qua cửa khẩu N2 ngày 13/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn D và bà Phan Thị T1 (bố mẹ đẻ chị N), trú tại xóm D, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của chị N và yêu cầu ông D, bà T1 thông báo cho chị N biết việc anh H đang khởi kiện ly hôn chị N tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, đề nghị gửi lời khai, ý kiến về Tòa án. Ông Nguyễn Văn D và bà Phan Thị T1 cho biết chị N hiện đang đi lao động tại Slovakia từ cuối năm 2020 và vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại, còn địa chỉ của chị N ở nước ngoài thì ông, bà không biết. Chị N đã biết anh H đang khởi kiện ly hôn chị N và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, chị N nhất trí ly hôn anh H và giao hai con chung cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, về cấp dưỡng thì anh H không yêu cầu nên chị N cũng nhất trí. Do chị N đang ở nước ngoài không về để giải quyết vụ án được nên, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết vụ án vắng mặt chị N.
Xét thấy, chị N đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh H và chị N, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của chị N liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Cháu Nguyễn Văn Minh H1, Nguyễn Văn Minh T trình bày: các cháu là con của bố Nguyễn Văn H và mẹ Nguyễn Thị N. Hiện nay, các cháu đang sống cùng bố. Nếu bố mẹ các cháu ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị N. Về con chung: đề nghị giao hai con chung Nguyễn Văn Minh T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015 và Nguyễn Văn Minh H1, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2017, cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do anh H chưa yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: anh H không yêu cầu, chị N chưa có ý kiến nên không xem xét. Về án phí: anh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N có địa chỉ cư trú tại xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An. Chị N hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì chị Nguyễn Thị N vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn - anh Nguyễn Văn H, đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và anh H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn - chị Nguyễn Thị N, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Việc chị N không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện chị N cố tình dấu địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 07/01/2014 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N là hợp pháp. Năm 2019, anh H, chị N xẩy ra mâu thuẫn, cuối năm 2020, chị N đi lao động tại Slovakia thì anh H, chị N, không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy: tình trạng tình cảm vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị N là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N có hai con chung là Nguyễn Văn Minh T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015 và Nguyễn Văn Minh H1, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2017. Từ khi chị N đi nước ngoài đến nay, hai con chung sống cùng anh H, anh H có nguyện vọng được chăm sóc con chung. Cháu H1, cháu T có nguyện vọng được ở với bố.
Xét thấy: hiện tại không xác định được chị N đang ở đâu, làm gì tại nước ngoài, chị đã được ông N, bà T1 cho biết Tòa án đang giải quyết vụ án nhưng chị không cung cấp thông tin cũng như ý kiến về việc ly hôn và các con, nên không thể giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H có nguyện vọng được nuôi hai con chung. Do đó, cần giao con chung của anh H, chị N cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng: anh Nguyễn Văn H chưa yêu cầu, nên miễn xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Văn H chưa yêu cầu và chị N chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 38; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.
- Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung:
- Giao con chung Nguyễn Văn Minh T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015 và Nguyễn Văn Minh H1, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2017 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012911 ngày 11/6/2024 (chị Nguyễn Thị Cẩm N1 nộp thay).
- Về quyền kháng cáo:
- Anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị N đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
5
Bản án số 315/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 315/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
