|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 314/2024/HS-PT Ngày: 13 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán:Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 và ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/TLPT-HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo Võ Trung T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Võ Trung T, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn T1 (đã chết) và con bà Trần Thị T2, sinh năm 1955 (còn sống); có vợ (đã ly hôn) và có 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
Trần Thị H, sinh năm 1982 (có mặt tại phiên toà).
Nơi thường trú: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi ở hiện tại: Ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Trong vụ án, bị hại Trần Thị H không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Trung T và bị hại Trần Thị H là chị em ruột, chị H sống bên nhà chồng ở ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; bị cáo Trạng thì ở cùng với mẹ ruột tên Trần Thị T2 tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 26/02/2024, chị H đến nhà mẹ ruột là bà T2 chơi và để túi xách màu đen bên trong có 7.000.000 đồng; 01 vòng đeo tay vàng 18k có cẩn hột màu trắng, trọng lượng 05 chỉ 07 phân 06 li; 01 dây chuyền vàng 18k có mặt bằng vàng 18k hình túi, trọng lượng 2 chỉ 2 li; 01 nhẫn kiểu vàng 24k có mặt hình bông hoa, trọng lượng 07 phân 08 li; 01 nhẫn kiểu đồng tiền bằng vàng 18k, trọng lượng 03 phân 8 li; 01 nhẫn kiểu bằng vàng 18k có mặt hình con cóc ngậm ngọc màu xanh, trọng lượng 7 phân 96 li; 01 nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ để bên trong phòng ngủ của Trạng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi chơi về vào phòng phát hiện túi xách của chị H nên nảy sinh ý định lấy trộm. Lợi dụng lúc chị H đang ở phòng khách cùng với chị ruột tên Trần Thị S và bà T2, T lén lút mở túi xách lấy trộm số tiền 7.000.000 đồng và toàn bộ số vàng nêu trên của chị H cất giấu vào túi xách màu đen của T. Xong, T đeo túi xách trên vai, đi ra ngoài lấy xe mô tô điều khiển đến tiệm V ở khóm A, thị trấn M, huyện T gặp bà Võ Ngọc R cầm toàn bộ số vàng được số tiền 33.000.000 đồng.
Khi T bỏ đi, chị H vào phòng kiểm tra và phát hiện mất toàn bộ số tài sản trên. Nghi ngờ T là người lấy trộm, chị H gọi điện thoại hỏi thì T thừa nhận đã lấy trộm, hứa hẹn sẽ trả tiền và chuộc vàng trả lại nhưng sau đó bị cáo đã tiêu xài hết tiền nên không thực hiện được việc trả lại tài sản cho chị H. Đến ngày 12/3/2024, chị H đến tiệm V chuộc lại toàn bộ số tài sản nêu trên với số tiền 33.528.000 đồng (tiền lãi 528.000 đồng) và trình báo sự việc đến Công an xã Đ Tại cơ quan công an, Võ Trung T thừa nhận hành vi trộm cắp số tài sản như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Số vàng có đặc điểm và trọng lượng nêu trên của bị hại Trần Thị H tại thời điểm bị chiếm đoạt có tổng giá trị là 52.325.400 đồng.
Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
Chị Trần Thị H tự nguyện giao nộp 01 túi xách màu đen, 01 biên nhận cầm đồ của tiệm V ghi ngày 26/02/2024 và toàn bộ số vàng nêu trên. Xét thấy không cần thiết tạm giữ nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chị H 01 túi xách màu đen cùng toàn bộ số vàng nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Trạng bồi thường tổng cộng 40.530.000 đồng. Trạng đồng ý nhưng chưa bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Võ Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Võ Trung T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự;
- Buộc bị cáo Võ Trung T bồi thường cho bị hại Trần Thị Hợp số tiền 40.530.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm chịu lãi tại giai đoạn thi hành án dân sự, về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 25/9/2024, bị cáo Võ Trung T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Võ Trung T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải nuôi mẹ gần 70 tuổi và nuôi con nhỏ 04 tuổi, bị cáo đã ly hôn vợ, bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương là hoàn cảnh khó khăn; cha bị cáo là ông Võ Văn T1 trước đây có tham gia tại chiến trường Campuchia và được nhận huy hiệu cựu chiến binh; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại với số tiền 52.325.400 đồng được bị hại xác nhận và bị hại có đơn bãi nại, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại là chị Trần Thị H xác nhận đã nhận được tiền bồi thường từ bị cáo là 52.325.400 đồng, chị H không còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường và chị H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm, phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Võ Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xét đến tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” áp dụng cho bị cáo. Nay bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị hại xác nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại xong, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại Toà án cấp phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì vậy Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù.
Tại phần tranh luận, bị cáo Võ Trung T không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Bị cáo Võ Trung T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo đã lén lút lấy trộm các tài sản của bị hại Trần Thị H với tổng giá trị tài sản trộm là 59.325.400 đồng để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo T3 đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đây là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, hành vi của bị cáo Võ Trung T bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 17/9/2024, kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quá trình xét xử sơ thẩm.
[2] Nay bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ cho bị hại với số tiền 59.325.400 đồng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; việc bị hại xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương là tình tiết giảm nhẹ được Hội đồng xét xử ghi nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng nội dung cha của bị cáo có tham gia chiến trường Campuchia không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận.
Xét thấy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại Toà án cấp phúc thẩm và quan hệ giữa bị hại và bị cáo là chị, em ruột, nên căn cứ vào quy định của pháp luật và để ổn định mối quan hệ trong gia đình bị cáo, bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để sửa quyết định của Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3] Bị cáo Võ Trung T không còn phải thi hành án phần trách nhiệm bồi thường dân sự cho bị hại Trần Thị H.
[4] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm về việc đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Võ Trung T được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Trung T.
Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Trung T.
- Tuyên bố bị cáo Võ Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Trung T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Bị cáo Võ Trung T không còn phải thi hành án phần trách nhiệm bồi thường dân sự cho bị hại Trần Thị H.
- Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Trung T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 314/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 314/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Trung T
