|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 314/2024/HNGĐ-ST Ngày 11-11-2024 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Trọng Tuấn
Bà Cao Thị Hạ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị L; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt;
Bị đơn: Anh L1, W; nơi cư trú: Số A thôn M, xã B, huyện V, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc; vắng mặt và có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Cao Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Cao Thị L và anh L1, W kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 126 ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến ngày 21 tháng 11 năm 2022 anh Lian W trở về Trung Quốc, hai bên đã sống ly thân từ ngày đó đến nay. Do khoảng cách địa lý xa dẫn tới tình cảm dần phai nhạt, vợ chồng không có nhiều thời gian gần nhau, không chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1, W.
Về con chung: Chị Cao Thị L và anh L1, W không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Cao Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản ghi ý kiến của anh L1, W (đã dịch và hợp pháp hoá lãnh sự tại Đ tại Trung Quốc) trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh L1, W thống nhất với lời trình bày của chị Cao Thị L về thời điểm kết hôn, đăng ký kết hôn tại huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 126 ngày 14 tháng 11 năm 2022 và tình trạng mâu thuẫn, quan hệ hôn nhân hiện nay giữa hai bên. Đến nay, anh L1, W xác định đã không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau. Chị L làm đơn xin ly hôn với anh L1, W, anh đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn.
Về con chung: Anh L1, W và chị Cao Thị L không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh L1, W và chị Cao Thị L không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn. Nguyên đơn chị Cao Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh L1, W có quốc tịch Trung Quốc và hiện sinh sống tại Trung Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Cao Thị L và anh L1, W vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Cao Thị L và anh L1, W theo khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Cao Thị L và anh L1, W kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Giấy Chứng nhận kết hôn số 126 vào ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và bị đơn, nhận thấy: Sau khi kết hôn được thời gian ngắn anh L1, W quay trở về Trung Quốc làm ăn, sinh sống, chị L vẫn ở tại Việt Nam; do khoảng cách địa lý dẫn tới tình cảm dần phai nhạt, hai bên không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Cao Thị L yêu cầu xin ly hôn với anh L1, W; anh L1, W đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh chị được ly hôn với nhau. Nhận thấy, cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị L đối với anh L1, W.
[4] Về con chung: Anh L1, W và chị Cao Thị L không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Cao Thị L và anh L1, W tự thoả thuận, nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Cao Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Cao Thị L và anh L1, W được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị L được ly hôn anh L1, W.
- Về con chung: Anh L1, W và chị Cao Thị L không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Cao Thị L và anh L1, W không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Cao Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000707 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Cao Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Cao Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Anh L1, W được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thuý |
Bản án số 314/2024/HNGĐ-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 314/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị L - Lian,W Ly hôn
