Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 314/2024/HS-PT

Ngày 12 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;

Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;

Ông Vũ Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Văn H; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2024/HS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Văn H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2003, tại Đồng Nai;

Tên gọi khác: Không;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp E, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam;

Con ông Đặng Văn V, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1985;

Gia đình bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 12/10/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Định Quán từ đó cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Đặng Mạnh Q, Điểu Trung H1, Đặng Văn H, Điểu T và nhóm đối tượng gồm: Điểu Trọng P, sinh năm 2004, Nguyễn Minh H2, sinh năm 2004, Trần H3, sinh ngày 01/10/2005, cùng cư trú tại ấp E, L, huyện Đ và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2001, cư trú tại ấp G, xã T, huyện Đ; Chu Thị Kim N1, sinh ngày 18/4/2006, cư trú tại ấp E, xã P, huyện Đ và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1993, cư trú tại Khu phố A, Phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là bạn bè của nhau. Khoảng 21 giờ ngày 08/10/2022, Q, H1, H, T, P, H2, H3, T1, N1 và T2 đi từ ấp E, xã L đến đầu đường ngã ba giao với Quốc lộ B thì xe mô tô do P điều khiển chở theo T1 bị ngã nên nhóm của Q dừng lại để đỡ P và T1 dậy. Lúc này, anh Đào Văn V1 điều khiển xe mô tô biển số 60B5 – 714.64 chở anh Đào Văn Đ đi ngang qua và có lời lẽ thách thức với nhóm của Q. Thấy vậy nên Tín điều khiển xe mô tô biển số 60F2 – 730.43 chở T2 và Q; H điều khiển xe mô tô biển số 60H6 – 107.12 chở H1 cùng đuổi theo xe của anh V1; những người còn lại không đi theo mà ở lại chăm sóc vết thương cho P và T1. Khi đuổi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã L thì T đuổi kịp và chặn đầu xe của anh Đ và anh V1; H và H1 chạy đến dừng xe phía sau xe của anh Đ. Tại đây, T dùng tay cầm nón bảo hiểm đánh 3-4 phát vào đầu của anh V1, còn H và H1 xuống xe dùng tay đánh 2-3 phát vào đầu của anh Đ. Lúc này, Q lấy 01 con dao Thái Lan dài 25cm, cán bằng nhựa màu vàng có trong hộc đồ phía sau tay lái của xe mô tô biển số 60F2 – 730.43 đi đến đâm 01 phát vào lưng của anh Đ làm anh Đ bỏ chạy. Sau đó, Q tiếp tục dùng dao đâm 01 phát vào lưng của anh V1. Sau khi bị Q đâm, anh V1 điều khiển xe bỏ chạy nhưng T và Q tiếp tục dùng xe mô tô đuổi theo. Đuổi theo được một đoạn thì thấy phía sau lưng anh V1 chảy máu nên không đuổi nữa; sau đó T, Q, T2, H, H1 bỏ đi khỏi hiện trường, anh V1 và anh Đ được đưa đến bệnh viện cấp cứu.

*Hậu quả:

1. Căn cứ Kết luận định giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0517/KLTTCT-TTPYĐN ngày 09/6/2023 và Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0761/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 15/8/2023 của Trung tâm P1 kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương của Đào Văn Đ như sau: Sẹo giữa cột sống ngực.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Văn Đ tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).

- Vết thương để lại sẹo giữa cột sống ngực kích thước 02x0,4cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn hoặc vật sắc tác động vào vùng giữa cột sống ngực với lực vừa đủ theo hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

2. Căn cứ Kết luận định giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0518/KLTTCT-TTPYĐN ngày 12/6/2023 và Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0762/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 21/8/2023 của Trung tâm P1 kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương của Đào Văn V1 như sau: Sẹo cung mày trái; Sẹo vết thương trùng với vết mổ bờ trong bả vai phải (lưng phải); sẹo mổ dọc khoang liên sườn 6 – 7 bên phải; sẹo mổ dẫn lưu ngực bên phải; sẹo mổ ngực bên phải; tổn thương xơ vùng thùy giữa và thùy dưới phổi phải; dị vật kim khí vùng cung sau xương sườn số 9 bên phải.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Văn V1 tại thời điểm giám định là 33% (Ba mươi ba phần trăm).

- 02 vết xước cung mày trái để lại sẹo kích thước 01x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng cung mày trái với lực nhẹ, theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

- Sẹo vết thương trùng với vết mổ lưng phải (bờ trong bả vai phải) kích thước 4,5x0,2cm; Có dị vật cản quang kim khí trong vỏ xương cung sau xương sườn số 9 bên phải kích thước 1,5x0,3mm; Xơ vùng thùy giữa và thùy dưới phổi phải. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng lưng phải (bờ trong bả vai phải) với lực vừa đủ, theo hướng từ sau ra trước và chếch từ phải qua trái gây nên.

* Vật chứng vụ án:

- 01 con dao Thái Lan dài 25cm, lưỡi kim loại sắc, cán bằng nhựa màu vàng là con dao mà Đặng Mạnh Q sử dụng để đâm anh Đào Văn Đ và anh Đào Văn V1. Sau khi gây án, Q đã vứt bỏ con dao và Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng chưa thu hồi được. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật, khi nào tìm được sẽ xử lý sau;

- 01 nón bảo hiểm loại ½ đầu, màu xanh da trời, viền trắng 02 bên là nón bảo hiểm của bị can Điểu T dùng để đánh anh V1. Sau khi gây án, T đã bỏ lại hiện trường và Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng chưa thu hồi được. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật, khi nào tìm được sẽ xử lý sau (bút lục số 126 đến 128).

Đối với xe mô tô biển số 60F2 – 730.43, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do bà Trần Thị Ngọc T3 – sinh năm 1969, cư trú tại khu phố A, Phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là mẹ của Nguyễn Thị Thanh T2) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/10/2022, T2 điều khiển xe mô tô trên về huyện Đ và bà T3 không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe mô tô trên.

Đối với xe mô tô biển số 60H6–107.12, quá trình điều tra xác định hiện nay xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Tuyết N – sinh năm 1985, cư trú tại tổ A, ấp E, xã L (mẹ ruột của bị cáo Đặng Văn H) đứng tên chủ xe. Trước đó, Đặng Văn H là người đứng tên chủ xe mô tô trên nhưng vào ngày 20/4/2022, H đã bán xe mô tô này cho ông Trịnh Ngọc T4 – sinh năm 1970, cư trú tại khu dân cư S, thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (là cha dượng của H) nhưng không làm thủ tục sang tên theo quy đinh. Đến ngày 15/5/2023, ông T4 tiếp tục bán lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N để bà N làm thủ tục sang tên. Do ông T4 không biết việc H sử dụng mô tô biển số 60H6 – 107.12 để thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích nên Cơ quan điều tra không thu giữ (bút lục số 129 đến 134).

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Đào Văn Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng là tiền điều trị vết thương; bị hại Đào Văn V1 yêu cầu các bị can bồi thường 250.000.000 đồng bao gồm: tiền điều trị, phẫu thuật là 10.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nằm viện 20 ngày là 8.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất của 1 người chăm sóc trong thời gian nằm viện 20 ngày là 8.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 50.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian 06 tháng là 72.000.000 đồng và tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 77.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Đặng Văn H đã tự nguyện bồi thường 20.000.000 đồng, trong đó: bồi thường cho anh Đ 2.000.000 đồng và bồi thường cho anh V1 18.000.000 đồng. Anh Đ và anh V1 đã nhận số tiền trên, đã làm đơn bãi nại cho bị cáo Đặng Văn H và tiếp tục yêu cầu các bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Đối với Nguyễn Thanh Thanh T2, là người chung sống như vợ chồng với Điểu T. Trước khi xảy ra việc gây thương tích cho anh Đ và anh V1, T2 ngồi trên xe mô tô do Đ1 Tín điều khiển chở nên khi Tín điều khiển xe mô tô đuổi theo anh Đào và anh V1, T2 đã ở trên xe mô tô của T. Việc gây thương tích cho anh Đ và anh V1 thì T, Q, H và H1 không bàn bạc, thống nhất với nhau nên T2 không biết trước hành vi phạm tội của T, Q, H và H1. Quá trình T, Q, H và H1 gây thương tích cho anh Đ và anh V1, T2 không tham gia và không có bất kỳ hành vi nào tạo điều kiện, cổ vũ hay giúp sức cho T, Q, H và H1 phạm tội. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với T2.

Đối với Điểu Trọng P, Nguyễn Minh H2, Trần H3, Nguyễn Thị Thanh T1 và Chu Thị Kim N1 do không biết và không tham gia hành vi “Cố ý gây thương tích" cùng với Đặng Mạnh Q, Đặng Văn H, Điểu Trung H1 và Điểu T nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại Cáo trạng số: 179/CT/VKSĐQ ngày 08 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Đặng Mạnh Q, Điểu T, Điểu Trung H1 và Đặng Văn H về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt là Bộ luật hình sự).

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2024/HS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (Riêng bị cáo H áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 54; bị cáo Q áp dụng thêm Điều 91 và 101), Điều 38, 58 và Điều 48 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 292, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Mạnh Q, Điểu T, Điểu Trung H1 và Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 04 (B) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

3. Kháng cáo:

- Ngày 06 tháng 02 năm 2024, bị cáo Đặng Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật; tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:

Vào khoảng 20 giờ ngày 08/10/2023, các bị cáo Đặng Mạnh Q, Điểu T, Đặng Văn H và Điểu Trung H1 đã dùng 01 con dao Thái Lan dài 25cm, cán bằng nhựa màu vàng, 01 nón bảo hiểm (là hung khí nguy hiểm) đâm và dùng tay đánh ông Đào Văn Đ và Đào Văn V1 gây thương tích cho ông Đ với tỷ lệ 1% và gây thương tích cho ông V1 với tỷ lệ 33%. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong bản tự khai/bản tường trình của các bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; bản tự khai/bản tường trình của các bị hại, biên bản ghi lời khai các bị hại, biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của các bị cáo Đặng Mạnh Q, Điểu T, Điểu Trung H1 và Đặng Văn H đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo:

2.1. Cấp sơ thẩm đã xác định, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

*Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

*Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế và tại phiên toà, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất có thể cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại và đã được bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo quy định tại điểm b khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

2.2. Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn H xin giảm nhẹ hình phạt.

2.3. Về hình phạt:

Hội đồng xét xử phúc thẩm xem thấy, Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo Đặng Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí:

Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn H, giữ nguyên về hình phạt đối với bản án sơ thẩm số: 20/2024/HS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

[1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

[2]. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 04 (B) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Định Quán;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Định Quán;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Định Quán;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 314/2024/HS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 314/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger