Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 314/2025/HS-PT

Ngày: 30 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương

Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Kiều Vân

Bà Lê Kim Đó

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 225/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Đình Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đình Q, sinh năm 1967 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Trần Thị U, sinh năm 1931; Họ tên vợ: Vũ Thị T, sinh năm 1969, có 03 con lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2011. Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nội dung của vụ án:

Nguyễn Đình Q và anh Phan Sông Đ (sinh năm 1978, thường trú tại tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là hàng xóm quen biết nhau.

Xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt, Q nghi ngờ anh Đ ném chất thải bẩn sang nhà Q nên hẹn gặp vợ chồng anh Đ để nói chuyện. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, anh Đ cùng chị Nguyễn Thị Phương Anh (sinh năm 1984, vợ anh Đ) đi sang đứng phía trước nhà Q, địa chỉ A, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B để nói chuyện với Q. Trong lúc nói chuyện, Q và anh Đ xảy ra cãi vã. Bực tức, Q đi vào trong nhà lấy 01 con dao tự chế dài 62cm (cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm) cầm trên tay phải đi ra đứng đối diện giơ dao lên hướng về phía anh Đ. Thấy vậy, anh Đ dùng tay trái nắm vào cán dao, tay phải đánh 02 cái vào người Q nhưng không trúng. Anh Đ tiếp tục dùng tay phải nắm vào phần lưỡi dao giằng co với Q thì Q rút con dao làm lưỡi dao cắt trúng 01 nhát vào cẳng tay phải và 01 nhát vào ngón út bàn tay phải của anh Đ. Khi rút được dao, Q tiếp tục đâm 02 nhát trúng vào đùi trái anh Đ. Bị chém, anh Đ quay người bỏ chạy thì bị Q chém 01 nhát từ phía sau trúng vào vùng đầu của anh Đ gây thương tích thì được mọi người can ngăn. Anh Đ được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1.

Cùng ngày, Q đến Công an phường T trình báo sự việc. Công an phường T đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Q đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

2. Vật chứng vụ án:

  • + 01 USB chứa video hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ cố ý gây thương tích (Lưu kèm hồ sơ vụ án).
  • + 01 con dao tự chế dài 62cm (cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, vỏ dao bằng gỗ dài 45cm).

3. Kết luận giám định:

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0623/KLTTCT-TTPYĐN ngày 15/7/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y Sở Y đã kết luận thương tích của anh Phan Sông Đ như sau:

  • + Sẹo vùng chẩm phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ 01%
  • + Sẹo 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Sẹo 1/3 dưới mặt trước ngoài sau cẳng tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Sẹo ô mô út ngón V bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Vết thương đùi trái đã liền sẹo gây đứt cơ tứ đầu đùi trái đã được phẫu thuật hiện để lại yếu chân trái mức độ ít. Tỷ lệ 07%.
  • + Tổn thương thần kinh gian cốt sau tay phải (nhánh thần kinh quay phải). Tỷ lệ 11%.
  • + Tổn thương bán phần thần kinh trụ phải không xác định được thời gian. Tỷ lệ 21%.
  • + Tổn thương bán phần thần kinh giữa phải không xác định được thời gian. Tỷ lệ 21%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Sông Đ tại thời điểm giám định là 52%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • + Vật gây thương tích: Vật sắc.

Quá trình giám định thương tích của anh Phan Sông Đ, Trung tâm pháp y phát hiện ngoài những thương tích theo hồ sơ bệnh án, còn có tổn thương bán phần thần kinh trụ phải và bán phần thần kinh giữa phải nên đã có Công văn số 337/TTPY/2024 ngày 03/7/2024 đề nghị Bệnh viện Đ1 xác định chẩn đoán thương tích của Phan Sông Đ có tổn thương thần kinh trụ phải và thần kinh giữa phải không? Đến ngày 12/7/2024, Bệnh viện Đ1 có Công văn số 939/BVĐKĐN trả lời: “Trong quá trình phẫu thuật, bác sỹ chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình đã thám sát các vết thương vùng cẳng tay (P) không ghi nhận thấy tổn thương thần kinh giữa bên (P) và thần kinh trụ bên (P) về đại thể trong lúc phẫu thuật”.

Do có mâu thuẫn giữa hồ sơ bệnh án và Kết luận giám định như trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có Công văn số 4052/CSĐT ngày 09/9/2024 đề nghị Trung tâm pháp y giải thích đối với tổn thương bán phần thần kinh trụ phải và bán phần thần kinh giữa phải không xác định được thời gian của Phan Sông Đ. Ngày 18/9/2024, Trung tâm pháp y có Công văn số 498/TTPY/2024 giải thích như sau: “Tổn thương này có thể do vết thương vùng cẳng tay phải gây nên, ban đầu Bệnh nhân vào viện được phẫu thuật thám sát không ghi nhận “Tổn thương thần kinh trụ tay phải và thần kinh giữa tay phải”, tuy nhiên, trong quá trình lành thương do sự hình thành mô sẹo có thể gây chèn ép dẫn đến tổn thương bán phần thần kinh trụ phải và tổn thương bán phần thần kinh giữa phải. Vì vậy, Trung tâm P không đủ cơ sở khoa học để xác định mô sẹo xơ hình thành và khi nào dẫn đến tổn thương bán phần thần kinh trụ phải, tổn thương bán phần thần kinh giữa phải”.

Cơ quan điều tra tiếp tục trưng cầu giám định tại V tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 290/KLTTCT-PVPYQG ngày 09/10/2024 của Giám định viên Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh V đã kết luận: “Tại thời điểm giám định, Phan Sông Đ không bị tổn thương thần kinh trụ và thần kinh giữa bên phải nên không có cơ sở trả lời về nguyên nhân và thời gian tổn thương".

Như vậy, kết quả điều tra, không đủ căn cứ chứng minh anh Phan Sông Đ bị tổn thương bán phần thần kinh trụ phải và bán phần thần kinh giữa phải. Ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có Công văn số 4716/ĐTTH đề nghị Trung tâm pháp y tách tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Sông Đ. Tại công văn số 570/TTPY/2024 ngày 05/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y về việc tách tỷ % lệ tổn thương cơ thể của anh Phan Sông Đ:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của các tổn thương là:

  • + Sẹo vùng chẩm phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ 01%.
  • + Sẹo 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Sẹo 1/3 dưới mặt trước ngoài sau cẳng tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Sẹo ô mô út ngón V bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
  • + Vết thương đùi trái đã liền sẹo gây đứt cơ tứ đầu đùi trái đã được phẫu thuật hiện để lại yếu chân trái mức độ ít. Tỷ lệ 07%.
  • + Tổn thương thần kinh gian cốt sau tay phải (nhánh thần kinh quay phải). Tỷ lệ 11%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các tổn thương trên là 23%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

4. Trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Sông Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình Q bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần số tiền 720.135.000 đồng (Bảy trăm hai mươi triệu một trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo Q đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) cho anh Đ.

5. Bản án sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 168/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 02 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

5. Kháng cáo:

Ngày 02/4/2025, bị cáo Nguyễn Đình Q kháng cáo toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 168/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

6. Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đình Q tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội và xử phạt mức bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo Q cung cấp tình mới thể hiện vợ bị cáo đang bị ung thư tuyến giáp, có con ruột bị khuyết tật giảm trí tuệ, gia đình có công với cách mạng hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình Q thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm: Xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt, Q nghi ngờ anh Đ ném chất thải bẩn sang nhà Q nên hẹn gặp vợ chồng anh Đ để nói chuyện. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, tại địa chỉ A, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, Nguyễn Đình Q có hành vi dùng 01 con dao tự chế dài 62cm (cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm) chém nhiều nhát trúng vào cẳng tay phải, ngón út bàn tay phải, đùi trái của bị hại gây thương tích với tỷ lệ 23%.

    Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét kháng cáo của bị cáo :

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã không những xâm phạm sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương.

    Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp.

    Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công với đất nước, có bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, có 02 chú ruột là liệt sĩ, hiện nay mẹ bị cáo là người thờ cúng liệt sỹ, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo đang điều trị bệnh ung thư tuyến giáp và đang chăm sóc con bị khuyết tật bẩm sinh. Ngoài ra, cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 170.911.336 đồng, nhưng bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 200.000.000 đồng thể hiện sự ăn năn, thiện chí khắc phục hậu quả.

    Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo còn có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành.

  4. [4] Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 62cm (cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, vỏ dao bằng gỗ dài 45cm) là công cụ bị cáo dùng để phạm tội.

  5. [5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. [6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.
  7. [7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Q. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 168/2025/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Đình Q cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 62cm (cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, vỏ dao bằng gỗ dài 45cm) là công cụ bị cáo dùng để phạm tội.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà;
  • - Công an thành phố Biên Hoà;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hoà;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai - Phòng PV06;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 314/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 314/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Quang bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger