Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————

Bản án số 314/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30/6/2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ và ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 314/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hồ Sỹ Đức A, sinh năm 1992; trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Bị đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 2002; nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống và làm việc tại: Nhật Bản; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, anh Hồ Sỹ Đức A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị T ham chơi, không lo làm ăn, lừa dối anh và bố mẹ anh để tham gia bài bạc, dẫn đến nợ nần, khiến gia đình anh ngày càng đảo lộn. Tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện nay chị Võ Thị T đã đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Võ Thị T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Tuệ N, sinh ngày 19/3/2022, hiện con đang ở với anh. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản vợ nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía chị Võ Thị T: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Võ Thị T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho chị Võ Thị T thông qua bà Trần Thị T1 là bà ngoại của chị Võ Thị T; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện chị Võ Thị T vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của bà T1 thì chị T hiện đang đi làm ăn ở N, có liên lạc về cho gia đình bằng mạng xã hội nhưng không nói địa chỉ hiện tại của chị T ở đâu và chị T cũng biết việc anh A làm đơn ly hôn tại Tòa án, chị T cũng đồng ý ly hôn.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 3192/QLXNC-P3 ngày 07/02/2024 của phòng xuất nhập cảnh – Công an tỉnh N: Chị Nguyễn Thị N1 có thông tin xuất cảnh ngày 17/8/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Hồ Sỹ Đức A, cho anh A được ly hôn chị Võ Thị T; giao con chung của vợ chồng cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là chị Võ Thị T có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang sinh sống Nhật Bản. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Võ Thị T vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với chị T thông qua người thân là bà ngoại (bà T1). Bà T1 cho biết chị T đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, nhưng chị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho bà T1 nên bà không có địa chỉ của chị T cung cấp cho Tòa án. Bà T1 đã thông báo cho chị T biết việc anh A làm đơn ly hôn tại Tòa án thì chị T cũng đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Phòng Q – Công an tỉnh N, chị Võ Thị T có thông tin xuất nhập cảnh ngày 07/02/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Hồ Sỹ Đức A và chị Võ Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay anh A không còn tình cảm với chị T. Khi biết anh A làm đơn xin ly hôn tại Tòa án, chị T cũng đã đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Hồ Sỹ Đức A và chị Võ Thị T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Hồ Sỹ Đức A. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Hồ Sỹ Đức A được ly hôn chị Võ Thị T.

[3.2] Về con chung: Anh Hồ Sỹ Đức A và chị Võ Thị T có 01 con chung Hồ Tuệ N, sinh ngày 19/3/2022, anh A đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ly hôn, anh A có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, chị T đang ở nước ngoài, chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, nên cần giao cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con, anh A không yêu cầu và chị T chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3.3] Tài sản chung, nợ: Anh Hồ Sỹ Đức A chưa yêu cầu giải quyết và chị Võ Thị T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Anh Hồ Sỹ Đức A phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Sỹ Đức A.

  1. Quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Sỹ Đức A được ly hôn chị Võ Thị T.
  2. Con chung: Giao con chung là cháu Hồ Tuệ N, sinh ngày 19/3/2022 cho anh Hồ Sỹ Đức A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Võ Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

  3. Án phí: Buộc anh Hồ Sỹ Đức A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 24/01/2025.
  4. Quyền kháng cáo:
    1. Anh Hồ Sỹ Đức A vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    2. Chị Võ Thị T đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 314/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 314/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn A và T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger