Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 314/2024/HS-ST

Ngày: 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Tốt

Bà Nguyễn Thị Mây

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 420/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1755/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 và thông báo thay đổi lịch xét xử số 1755a/TB-TA ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Đình V – sinh năm: 1997 tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: 4, tổ H, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Y Quý B và bà Trần Thị L; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 02/7/2020 Toà án nhân dân Quận 2, Tp. xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 36/2020/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2021 và đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đắc V1, sinh năm: 2002; địa chỉ: D ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Lê Thanh T, sinh năm: 1989; địa chỉ: Ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Đình P, sinh năm: 1993; địa chỉ: B P, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số F đường T, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Hồng V2, sinh năm: 1994; địa chỉ: E đường T, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đình V sử dụng tài khoản Zalo "Mai Quỳnh N" có hình đại diện là nữ, kết bạn làm quen qua mạng với tài khoản Zalo "Đ" do Nguyễn Đắc V1 là chủ tài khoản. Sau đó, V nhắn tin rủ V1 gặp nhau để quan hệ tình dục, V1 đồng ý vì nghĩ V là phụ nữ.

Khoảng 11 giờ ngày 23/5/2024, V dùng tài khoản Zalo "Mai Quỳnh N” hẹn và gửi vị trí đường D, Quận A cho V1 đến. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi V1 tới đường D thì V nói V1 tới khách sạn C tại địa chỉ số B đường D, khu phố B, phường T, Quận A sẽ có một bạn nam đón và sắp xếp sao thì nghe vậy. Khi V1 tới khách sạn thì V xuống đón V1 đưa lên phòng 501 ngồi chờ. Rồi V đi ra ngoài gặp Lê Thanh T (là bạn V) đang ngồi uống nước ngoài quán gần khách sạn, lấy trong cốp xe mô tô Yamaha Nouvo biển số 62M1-351.59 xà bông tắm, dầu gội đầu, dao cạo râu mà V đã mua và cất vào trước đó (xe của T nhưng trước đó V mượn sử dụng) và quay lại khách sạn đưa cho V1 vào tắm và cạo lông mu vì người nữ "Mai Quỳnh N" thích như thế. V nói V1 tắt định vị và tắt mục tìm điện thoại trên điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax của V1 để tránh người nhà V1 theo dõi phiền phức cho người nữ. V1 làm theo và để điện thoại ngoài bàn tivi rồi vào phòng tắm, lợi dụng V1 đang tắm không để ý, V đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nói trên của V1 rồi đi ra ngoài nói T chở về phòng trọ của V tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 23/5/2024, V đưa chiếc điện thoại di động đã chiếm đoạt của V1 cho T, nhờ T đi bán dùm. V không nói và T cũng không hỏi nguồn gốc chiếc điện thoại di động này. Tòng mang chiếc điện thoại đến tiệm điện thoại Anh K, địa chỉ B P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho ông Nguyễn Đình P được 15.000.000 đồng rồi về đưa lại toàn bộ số tiền này cho V.

Sau khi tắm xong trở ra, V1 phát hiện điện thoại di động của mình đã bị chiếm đoạt nên đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc. Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã mời Trần Đình V cùng những người liên quan đến trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, V đã thừa nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được (BL số 19, 20, 45-55, 129-147).

Lê Thanh T khai nhận quen biết với Trần Đình V do vợ T và vợ V là người cùng quê. Ngày 23/5/2024, T điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Nouvo biển số 62M1-351.59 từ Hậu Giang lên Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm, khoảng 12 giờ cùng ngày có ghé phòng trọ của vợ chồng V tại phường T, Quận A để chơi và rủ V đi uống cà phê. Khi đi uống cà phê thì V kêu T đưa xe môtô của T để V điều khiển chở T ngồi sau, khi đi đến trước khách sạn C ở số B đường D, khu phố B, phường T, Quận A; V dừng xe kêu T ngồi đợi V vào khách sạn có việc. Khoảng gần 14 giờ cùng ngày, V trở ra kêu T chở về phòng trọ của V, cùng nhau ăn uống. Khoảng 18 giờ cùng ngày V đưa cho T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu đen nhờ T mang đi bán dùm. T không hỏi nguồn gốc điện thoại vì nghĩ rằng đó là tài sản cá nhân của V. Sau đó, T mang chiếc điện thoại di động này đến tiệm điện thoại Anh K bán được 15.000.000đồng về đưa lại hết cho V. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày T rời khỏi phòng trọ của V (BL số 51-52, 57-58, 92-93).

Ông Nguyễn Đình P là chủ của hàng điện thoại di động Anh K khai nhận, khoảng hơn 18 giờ ngày 23/5/2024, có một người nam thanh niên đến bán 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu đen, sau khi kiểm tra thấy điện thoại không vướng mật khẩu nên ông P đồng ý mua với giá 15.000.000đồng, ông P không biết điện thoại di động này này do phạm tội mà có. Sau đó, ông P bán chiếc điện thoại này cho ông Nguyễn Văn L1 với giá 15.500.000đồng. Ngày 25/5/2024, ông L1 bán chiếc điện thoại di động này cho bà Nguyễn Thị Hồng V2 với giá 16.000.000 đồng và khi biết chiếc điện thoại di động là tài sản phạm tội mà có, bà V2 đã nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. (BL số 80-87).

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu đen, 128GB đã qua sử dụng (do bà Nguyễn Thị Hồng V2 giao nộp), quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Đắc V1 (BL 234).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax 256GB, màu xám, số Imeil: 354449440022086, số Imei2: 354449440543966; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xám, số Imeil: 867253058058620870, số Imei2: 867253058620862; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 353102117334023, số I: 353102117334042, tạm giữ của Trần Đình V.
  • - 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ Columbia, 01 áo sơ mi tay dài màu đen, có chữ 4men, 01 áo khoác thun dài tay màu đen, 01 quần tây dài màu đen, 01 đôi dép màu đen, 01 nón bảo hiểm màu trắng đỏ có chữ A, tạm giữ của Trần Đình V.
  • - 02 USB ghi nhận hình ảnh vụ việc (đính kèm hồ sơ vụ án).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 196/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A đã kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu đen, 128GB đã qua sử dụng, trị giá 18.250.000đồng" (BL 22-24).

Tại phiên toà, bị cáo Trần Đình V khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Công bố lời khai của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai có nội dung như bị cáo đã khai nhận tại phiên toà; bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 286/CT-VKSQ12 ngày 24/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Trần Đình V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Đình V và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Trần Đình V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 23/5/2024 tại khách sạn C địa chỉ B đường D, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Đình V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu đen, trị giá 18.250.000đồng của anh Nguyễn Đắc V1.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Trần Đình V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo ngại trong nhân dân nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng nhân thân xấu năm 2020 bị TAND Quận 2, Tp. xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đắc V1 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu đen, 128GB (do bà Nguyễn Thị Hồng V2 giao nộp) là tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Đắc V1 là có căn cứ.
  • - Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax 256GB, màu xám, số Imeil: 354449440022086, số Imei2: 354449440543966; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xám, số Imeil: 867253058058620870, số Imei2: 867253058620862 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 353102117334023, số I: 353102117334042, tạm giữ của bị cáo V. Bị cáo sử dụng điện thoại liên lạc với bị hại nhằm mục đích quan hệ tình dục đồng giới, sau khi vào phòng khách sạn bị cáo mới nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trả lại cho bị cáo 03 chiếc điện thoại nói trên.
  • - Đối với: 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ Columbia, 01 áo sơ mi tay dài màu đen có chữ 4men, 01 áo khoác thun dài tay màu đen, 01 quần tây dài màu đen, 01 đôi dép màu đen, 01 nón bảo hiểm màu trắng đỏ có chữ A, tạm giữ của bị cáo V, có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 02 USB ghi nhận hình ảnh vụ việc, đã được đính kèm trong hồ sơ vụ án.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Thanh T, không biết, không tham gia vào việc chiếm đoạt tài sản cùng với bị cáo Trần Đình V và cũng không biết chiếc điện thoại di động bị cáo V nhờ bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T.

Đối với ông Nguyễn Đình P, ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị Hồng V2 khi mua chiếc điện thoại di động nêu trên không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình V 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình V3: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax 256GB, màu xám, số Imeil: 354449440022086, số Imei2: 354449440543966; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xám, số Imeil: 867253058058620870, số Imei2: 867253058620862 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 353102117334023, số I: 353102117334042.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có chữ Columbia; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen, có chữ 4men; 01 (một) áo khoác thun dài tay màu đen; 01 (một) quần tây dài màu đen; 01 (một) đôi dép màu đen, 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng đỏ có chữ A.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 250/QĐ-VKS ngày 24/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Trần Đình V phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Tp.HCM (1b);
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM (1b);
  • - Phòng PC53 Công an Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Công an Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THA dân sự Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi cư trú của bị cáo (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (5b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Thuỳ T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 314/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 314/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình V - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger