Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 314/2024/HS-ST

Ngày: 21/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thúy Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng

Ông Hoàng Mạnh Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Ninh - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Bích H, sinh năm 1989; giới tính: Nữ; Đăng ký thường trú: Số B nhà B, khu tập thể N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: P288 nhà B, khu tập thể N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Đại học; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đức H1 và bà Trịnh Thanh M; bị cáo là con duy nhất của gia đình; chồng: Lâm Quốc A; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 412 do Công an quận Đ lập ngày 27/5/2024. Bắt ngày 17/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh năm 1993; giới tính: Nam; Đăng ký thường trú và nơi cư trú: Nhà A, tập thể V, Tổ E C, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H2 và bà Nguyễn Thị L; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Phan Thu N; con: 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 413 do Công an quận Đ lập ngày 27/5/2024. Bắt ngày 17/5/2024.Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/5/2024, tại khu vực đầu ngõ F phố T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường T đang làm nhiệm vụ phát hiện Lê Văn Đ điều khiển xe máy Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29G2- 026.65 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ tại khu vực hộc nắp bình xăng 01 gói giấy màu trắng, dán băng dính bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x3) cm trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x3) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại chỗ, Đ khai nhận số ma túy bị thu giữ là của Nguyễn Bích H đưa cho Đ mang đi giao bán cho người mua nhưng chưa giao được thì bị phát hiện, thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 3666/KLGĐ-PC09 ngày 26/5/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H thu giữ của Lê Văn Đ:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,292 gram.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,078 gram".

Khoảng 01 giờ 45 phút cùng ngày 17/5/2024, Tổ công tác của Công an phường T phát hiện Nguyễn Bích H đang đứng ở khu vực đầu ngách A ngõ A đường N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi kiểm tra, H đã thả từ tay phải xuống đất, cách bàn chân phải khoảng 20cm là 01 gói giấy màu trắng, dán băng dính bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (4x4) cm trong chứa 07 viên nén màu ghi nghi là ma túy. Tại chỗ, H khai nhận gói ma túy là của H. Ngoài ra, H còn đang cất giấu ma túy tại địa chỉ P nhà B, tập thể Nhà máy Thuốc lá T, phường T, quận T, Hà Nội. Công an phường T đưa H về địa chỉ Phòng 228 nhà B tập thể Nhà máy T1, phường T, quận T, Hà Nội. Tại đây, H đã tự nguyên giao nộp: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (4x7) cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (7x15) cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (6x13) cm bên trong chứa 03 viên nén màu ghi nghi là ma túy và 01 cân tiểu ly màu trắng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bích H tại Phòng 228 nhà B tập thể Nhà máy T1, phường T, quận T, Hà Nội không phát hiện thu giữ gì thêm.

Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 3665/KLGĐ-PC09 ngày 26/5/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H thu giữ của Nguyễn Bích H:

“- 07 viên nén màu ghi bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 2,723 gram.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon kích thước (4x7) cm là ma túy Ketamine, khối lượng 7,252 gram.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon kích thước (7x15 )cm là ma túy Methamphetamine, khối lượng 1,838 gram.

- 03 viên nén màu ghi bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,166 gram”

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bích H và Lê Văn Đ khai nhận như sau: Qua mạng xã hội Facebook, H thấy nhóm “Hội đồng phê” có người rao bán ma túy nên đã hỏi mua 03 chỉ “Ke”, 01 gam “Đá” và 10 viên “Kẹo” với giá là 7.000.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực ngách A ngõ A N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. Đến khoảng 01 giờ ngày 16/5/2024 tại đầu ngách A ngõ A N, H được 01 nam thanh niên mặc đồng phục G đeo khẩu trang giao cho H 03 chỉ “Ke”, 01 gam “Đá” và 10 viên “Kẹo” rồi H đưa cho người này số tiền 7.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời, H đã lấy ra 01 ít để sử dụng.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 16/5/2024, H nhận được tin nhắn của một tài khoản zalo tên “Ngọc L1” hỏi mua nửa chỉ ke và 02 viên “Kẹo”. H báo giá là 2.200.000 đồng và chuyển tiền vào tài khoản số 99949689999 mang tên Nguyễn Bích H, mở tại ngân hàng T2, “Ngọc Lệ” đồng ý và hẹn giao dịch tại ngõ F phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội. Sau khi “Ngọc L1” chuyển số tiền 2.200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H, thì H gọi điện cho Lê Văn Đ đến nhà H để đi giao ma túy, Đ đồng ý và điều khiển xe máy Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29G2- 026.65 đến. Khi Đ đến, H đưa cho Đ 01 gói giấy có dán băng dính rồi bảo Đ bên trong gói giấy là nửa chỉ ma túy “Ke” mang đi giao cho người mua tại khu vực đầu ngõ F phố T với tiền công là 200.000 đồng. Đ đồng ý và xin H 01 túi nilon ma túy “Đá” để sử dụng nhưng nếu ai hỏi mua thì Đ sẽ bán lại, H đồng ý cho Đ. Sau đó, Đ cất giấu ma túy vào trong hộc đổ xăng xe máy Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29G2- 026.65 rồi điều khiển đi đến khu vực đầu ngõ F phố T thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.

Do H quên không đưa 02 viên ma túy “Kẹo” cho Đ để Đ mang giao cho “Ngọc Lệ” nên H nhắn tin cho “Ngọc L1”. “Ngọc L1” tiếp tục hỏi H mua thêm 04 viên “Kẹo” nữa, H đồng ý và cho “Ngọc L1” thêm 01 viên “Kẹo”. H hẹn giao dịch tại khu vực ngách A ngõ A đường N, phường T, quận T, Hà Nội. Sau đó, H lấy 07 viên “Kẹo” cho vào túi nilon, bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng và cuốn băng dính mang xuống giao cho “Ngọc Lệ”. H đi đến khu vực đầu ngách A ngõ A đường N thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, ngoài túi ma túy là MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 01 cân tiểu ly mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Văn Đ, Nguyễn Bích H. Cơ quan điều tra còn thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:

- Thu giữ của Lê Văn Đ: 01 xe máy Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29G2 - 026.65 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh rêu, số IMEI 1: 353393513821407, số IMEI 2: 353393513923609, 128GB.

- Thu giữ của Nguyễn Bích H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, dung lượng 128 GB, số IMEI: 357771750473568, IMEI 2: 357771750075785.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Bích H, do H khai không biết gì về thông tin của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định, làm rõ để xử lý.

Đối với tài khoản zalo tên là “Ngọc L1” mua ma túy của H, do H không biết tên, tuổi địa chỉ, chỉ biết người này sử dụng số điện thoại 0812.627.xxx và số tài khoản 19037145392014 mở tại ngân hàng T3.

Qua điều tra, xác minh, xác định người đứng tên đăng ký thuê bao số điện thoại 0812.627.xxx là chị Vương Thị Thu P (sinh năm 2004; trú tại xóm V, thôn C, xã C, huyện Q, Thành phố Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị P khai nhận, không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0812.627.xxx nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Qua điều tra, xác minh, xác định người đứng tên mở số tài khoản 19037145392014 tại ngân hàng T3 là Lê Hải Y (sinh năm 1983; trú tại số B tổ A phố L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị Y khai nhận: Bản thân chị Y kinh doanh mua, bán sim điện thoại và làm dịch vụ chuyển tiền qua mạng nên có nhiều người nhờ chuyển tiền. Chị Y không nhớ là ai đã nhờ chuyển số tiền 2.200.000 đồng từ tài khoản của chị Y đến tài khoản 99949689999 mang tên Nguyễn Bích H, mở tại ngân hàng T2. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 300/CT-VKSĐĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Lê Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Bích H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Lê Văn Đ và Nguyễn Bích H khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn Đ mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Áp dụng Điều 38, điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Bích H mức án từ từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy. Tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Truy thu số tiền 2.200.000 đồng của Nguyễn Bích H do phạm tội mà có.

Bị cáo Lê Văn Đ và Nguyễn Bích H nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bích H khai nhận hành vi đã tàng trữ trái phép 3,889 gram MDMA; 2,130 gram Methamphetamine và 8,330 gram Ketamine với mục đích bán thu lời được số tiền 2.200.000đồng. Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì: 3,889 gram MDMA tỷ lệ phần trăm là 77,78%; 2,130 gram Methamphetamine tỷ lệ phần trăm là 42,6%; 8,330 gram Ketamine tỷ lệ phần trăm là 41,65%. Tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy là 162,03%. Do vậy, tổng tỷ lệ phần trăm của 03 chất ma túy nêu trên là trên 100%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Đ khai nhận hành vi đã tàng trữ trái phép 0,292 gram Methamphetamine và 1,078 gram Ketamine với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Nguyễn Bích H và Nguyễn Văn Đ1 với tội danh và điều luật trên là đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy đồng thời là hành vi tiếp tay tiêu thụ, buôn bán trái phép chất ma túy góp phần làm cho tệ nạn xã hội phát triển, do vậy, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dục giao dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần xét đến nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn nen cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do các bị cáo không có việc làm nên không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về các biện pháp tư pháp: Số ma túy thu giữ của các bị cáo là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung công: 01 xe máy Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29G2 - 026.65 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh rêu, số IMEI 1: 353393513821407, số IMEI 2: 353393513923609, 128GB thu giữ của Lê Văn Đ. Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, dung lượng 128 GB, số IMEI: 357771750473568, IMEI 2: 357771750075785. thu giữ của Nguyễn Bích H do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng của Nguyễn Bích H do phạm tội mà có.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p, khoản 2 Điều 251 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Bích H. Khoản 1 Điều 251 áp dụng đối với bị cáo Lê Văn Đ. Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Bích H, bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Bích H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 17/5/2024; Miễn phạt tiền đối với bị cáo

Xử phạt Lê Văn Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 17/5/2024; Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với hai bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng H3, chữ ký của cán bộ Công an phường T Nguyễn Minh T, chữ ký của đối tượng Lê Văn Đ, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Xuân L2 cùng hình dấu của Công an phường; 02 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn hoàng H3, chữ ký của cán bộ Công an phường T Nguyễn Minh T, chữ ký của đối tượng Nguyễn Bích H cùng hình dấu của Công an phường; 01 cân điện tử màu trắng.

Tịch thu sung công: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số Imei: 357771750473568 và 357771750075785 (máy đã qua sử dụng và không kiểm tra chất lượng bên trong) tạm giữ của Nguyễn Bích H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số I: 353393513821407 và 353393513923609 (máy đã qua sử dụng và không kiểm tra chất lượng bên trong) tạm giữ của Lê Văn Đ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu xanh, biển kiểm soát 29G2 - 026.65.

Tang vật trên hiện đang lưu trữ kho theo biên bản giao nhận tang vật số 08 ngày 15/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Truy thu số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Bích H do phạm tội mà có.

Bị cáo Nguyễn Bích H và Lê Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

*Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Trại tạm giam số 1;
  • - Lưu HS, VP.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thúy Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 314/2024/HS-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 314/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Bích Hạnh 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 17/5/2024; Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xử phạt Lê Văn Đức 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 17/5/2024; Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger